Nam sinh quậy lớp 10A3 cũng “khét tiếng” lắm. Nguyễn Hùng Việt được xem là đàn anh thứ dữ. Một hôm, trong giờ thi môn lý hoá đệ nhị lục cá nguyệt, Việt ngồi cạnh tôi, đòi tôi đưa bài thi cho “ngài” chép. Nói tử tế , tôi giúp ngay nhưng đe doạ thì đừng hòng ! Việt chồm qua định giật bài thi của tôi , thì thầy giám thị coi thi nhắc nhở , Việt tạm ngồi im . Lúc đó tôi nhìn ra cửa sổ ; thấy hai, ba chàng du đãng mặt mày dữ tợn đang đưa nắm đấm lên hăm doạ . Làm bài mà lòng tôi hồi hộp, run lên . Cứ nghĩ rằng họ là bạn của Việt. Việt cũng không thèm đoái hoài gì đến tôi nữa. Hết giờ, thí sinh lục tục rời phòng, tôi nấn ná ở lại, lo sợ nhìn quanh thì Việt đã phóng ra khỏi lớp từ lúc nào. Sau đó nghe tiếng la hét vang lên nhốn nháo : “ Du đãng cầm dao rượt đuổi nhau bây ơi !”. Hỏi chuyện nhau, mới biết Việt với đám giang hồ gây thù chuốc oán sao đó, nên bị họ đến thanh toán . Từ đó Việt bỏ học đi đâu mất dạng. Ngoài Việt ra, còn có Nguyễn Kim Phụng, anh chàng này tuy nhỏ con nhưng nhiều đứa cũng phải gờm mặt không dám trêu ngươi. Phụng học với tôi từ năm đệ thất đến năm lớp 10, anh chàng chưa hề ăn hiếp hoặc hù doạ ai, nhưng bạn của Phụng là những anh chị thứ thiệt : “băng cột điện 192” khá khét tiếng trong lứa tuổi thiếu niên hồi đó ( lúc chúng tôi học lớp 7, lớp 8, lớp 9), băng đảng này có Võ Văn Nhơn bạn học lớp tôi từ đệ thất đến lớp 9. ( Nhơn là bạn thân và là hàng xóm của Phụng - nhà trên đường về Hạnh Hoa Thôn và Trí Bưu , gần nhà Cao Thị Kim Lương).
Trong lớp có Lê Nguyên, Lê Đình Tứ ( cháu thầy Lê Đình Chỉnh), Nguyễn Mãn, Lê Hữu Kháng, Lê Văn Quy, Lê Thọ Tuyển, Nguyễn Thọ, Võ Văn Đôn, Lê Văn Toàn, Lê Hoà … những bạn ngồi phía sau hiền lành và ít tham gia hoạt động lớp. Lê Nguyên,Võ Văn Đôn cùng học với tôi từ năm đệ thất đến lớp 10. Lê Nguyên, người Nhan Biều, là cháu thím Quy (vợ chú Quang của tôi ) .Hồi còn học lớp 8, lớp 9 Nguyên đã đi học bằng chiếc xe Gobel, ra dáng anh hùng xa lộ lắm. Các bạn nữ như : Cao Thị Thanh Thuỷ, Trần Thị Nếp, Trần Thị Hoàng Liên, Trần Thị Thu Lam, Nguyễn Thị Ninh, Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Kim Thu, Phan Thị Tự, Nguyễn Thị Vu, Phan Thị Liễu, Trần Thị Ngoan, Đào Thị Bạch Nhật, Nguyễn Thị Hậu, Nguyễn Thị Hoài An …. nói chung đều hiền lành, rụt rè ít nói. Cao Thị Thanh Thuỷ người làng Trà Liên, là em ruột thím Nhàn (vợ chú Đức của tôi). Hoàng Liên, nhà ở Thạch Hãn, đối diện với nhà thầy Trần Văn Lữ. Liên có em gái Hồng Phượng, lúc đó học lớp 10B, rất xinh nên là đối tượng chiêm ngưỡng của nhiều chàng trai trường Nguyễn Hoàng. Phan Thị Liễu, người Nhan Biều, hiện là giáo viên đã nghỉ hưu, hiện ở xã Tân Phước, La Gi, Bình Thuận. Chồng Liễu, anh Hải cũng là đồng môn NH hơn Liễu ba lớp. Anh Hải thật thà đôn hậu , đối xử rất nhiệt tình với bạn học của vợ mình.
Trường NH lúc đó vẫn được quản lý bởi thầy hiệu trưởng Thái Mộng Hùng. Nhưng nhà thầy ở Đà Nẳng, phải điều hành hai phân hiệu (Non Nước – Hoà Khánh), cách xa nhau hơn 20 km, nên thầy không thường xuyên có mặt. Giám học trường vẫn là thầy Nguyễn Thiện. Thầy Hồ Ngọc Thanh, tổng giám thị luôn có mặt ở trường ( nhà thầy ở ngay trong trại 5 Non Nước ). Năm học này , trường NH bùi ngùi tiễn đưa thầy Phan Phụng Thạch ( quản thủ thư viện trường - giáo sư dạy sử địa lớp đệ thất 3 của tôi niên khóa 1968 - 1969) - một nhà thơ tài hoa về nơi an nghỉ cuối cùng . Đoàn người tiễn đưa thầy Thạch đông hàng nghìn người, ngoài tang gia quyến thuộc, đồng nghiệp, thi văn hữu, thì học sinh toàn trường Nguyễn Hoàng đang tản cư ở Đà Nẵng đều hiện diện đông đảo. Ai cũng rưng rưng xúc động nhớ thương vị thầy giáo tài hoa mà mệnh yểu. Chưa tròn một năm sau đó, thầy Trần Văn Lữ - người bạn thân của thầy Phan Phụng Thạch - vị giáo sư quốc văn khả kính của nhiêu thế hệ học sinh Nguyễn Hoàng cũng ra đi trong sự tiếc thương của gia đình thân hữu , đồng nghiệp và học sinh Nguyễn Hoàng

Quý thầy cô dạy 10A3 đều để lại cho chúng tôi những kỷ niệm khó quên. Thầy Cái Ngọc, giáo sư hướng dẫn lớp, dạy môn vạn vật trầm lặng ít nói, thầy thường để lớp chủ động giải quyết công việc. Quốc Cường, Đăng Hùng và tôi được thầy giao cho công việc cộng sổ, viết bảng điểm của các kỳ thi lục cá nguyệt vào thành tích biểu cho các bạn trong lớp. Trương Đăng Hùng viết chữ rất đẹp , nên sau khi bị hư 1 bảng điểm cuối niên khóa ( do có chỉnh sửa , bôi xoá ) ; Hùng sao thêm 2 bảng điểm cuối niên khoá nữa, sau khi nộp bảng chính đẹp nhất cho giáo sư hướng dẫn. Hắn giao cho tôi 1 bảng sao và 1 bảng bị hư do sửa chữa và hắn chỉ giữ 1 bảng sao. Tôi cho Mĩ Trúc bảng điểm có chỉnh sửa . Hè năm 1977, khi về Quảng Trị tôi cho lại Nguyễn Văn Bình bảng sao hoàn chỉnh duy nhất mà tôi còn giữ ( nghe nói hắn để cho mối mọt gặm nát rồi , chán thiệt ! ). May sao , Mỹ Trúc đã photocopy bảng điểm Trúc đang giữ và gửi vào cho tôi ( khổ giấy A1 , to rộng lắm ). Bạn học 10A3 NH cũ nào cần thì liên hệ tôi hoặc Mỹ Trúc để xem .
Thầy Thị dạy toán, thấp lùn, béo tròn. Mặt thầy hồng hào, miệng cười tươi trông phúc hậu như Phật Di Lặc. Tôi vốn mất căn bản toán, đúng ra phải chọn ban C, nhưng niên khoá đó, trường NH không mở ban C nên tôi mới miễn cưỡng học ban A. Thầy Thị dạy rất dễ hiểu. Tôi ngồi bàn đầu , hay được thầy trò chuyện. Thầy hỏi : “ Minh , Liên , Đức là gì của em ?” (Đoàn Minh , Đoàn Liên , Đoàn Đức là những học sinh cũ của trường NH, nổi tiếng học giỏi, và là những người chú ruột của tôi ; sau này chú Đức dạy Nguyễn Hoàng môn Anh Văn, có dạy lớp 11A3 niên khoá 1973 -1974 từ lớp 10A3 của chúng tôi lên ) . Giờ học toán , thầy Thị lại đố tôi Anh văn : “ Đố Phú ICCS ( viết tắt chữ tiếng Anh "Uỷ ban Quốc tế kiểm soát ngừng bắn bốn bên" ) xếp các nước thành viên theo thứ tự alphabet mà sao Ba Lan lại xếp trước Gia - nã - đại ? Tôi trả lời : “ Dạ thưa thầy họ xếp tên các nước theo alphabet của tiếng Anh chứ không theo tiếng Việt ạ ! Gia - nã - đại viết theo tiếng Anh là Canada , nên xếp trước Ba Lan , tiếng Anh là Poland”. Thầy khen giỏi làm tôi đỏ mặt . Không thể để thầy chê là dốt toán nên tôi cố gắng tự học, tự ôn lại nội dung các lớp dưới để lấy lại căn bản . Trong giờ học, thầy hay cho làm “toán chạy”. Có một chuyện làm tôi nhớ mãi : để nộp bài trước những bạn gái , chúng tôi làm toán rất nhanh , do đó đọc đề không kỹ , tôi nộp bài sớm nhất . Thầy Thị xem bài gật gù liên tục : “Đúng ! Đúng! Đúng!...” làm tôi khoái chí nở mũi khá to . Đột nhiên , thấy la lên : “Trời ơi! Răng mới làm chừng ni đã vội nộp rồi …A! Á! À! A!...”. Thì ra tôi mới làm được phân nửa bài, chỉ tạm xong câu a , chưa làm câu b nhưng sợ thua các bạn nữ mà đại diện nổi trội là Lê Thị Thắm (em ruột cô Lê Thị Em, giáo sư dạy lý hoá NH ) , nên đã chạy lên nộp trước , phải một bữa quê mặt . Nhờ sự tận tâm, gần gũi của thầy Thị nên tôi học toán khá trở lại
Giáo sư dạy Anh văn ( sinh ngữ 1) của chúng tôi là thầy Trương Thúc Cổn, dạy liên lớp 10, liên lớp 11 . Mới vào học thầy ra ngay bài kiểm tra cho tất cả các lớp với một dạng đề như nhau ( không phân biệt lớp 10 hay lớp 11) . Tôi còn nhớ đại khái như sau : Dịch ra Anh văn các câu sau :
1.Thầy hiệu trưởng trường chúng ta là thầy Thái Mộng Hùng , cao gầy , đẹp trai , nghiêm nghị
2. Thầy dạy Anh văn lớp chúng tôi trước đây là thầy Kế , thầy đeo kính cận ,đến trường bằng xe jeep trắng
3.Chị em trao đổi :
- Chị ơi ! Chúng ta có thể lên cung Hằng bằng cách nào nhỉ ?
- Dễ lắm em ạ ! Chúng ta có thể du nguyệt điện bằng phi thuyền Appllo 11 do Mỹ chế tạo đấy…
Do bài làm của tôi hợp nhãn với thầy hay sao, đi dạy lớp nào ( kể cả lớp 11C ) , thầy cứ biểu dương tôi mãi, làm tôi hết sức ngượng ngập vì bị các anh chị lớp 11C trêu chọc khi đi ngang qua lớp họ ( chị Đoàn Hoa của tôi học lớp 11C đó ).
Cô Võ Thị Hồng dạy Việt văn là người hết sức tình cảm. Trong giờ nghỉ, cô hay trò chuyện với học sinh, nhất là các bạn gái . Năm sau, ra trường Quốc Học Huế học, tôi lại gặp cô dạy ở đây . Phan Ngọc Đăng ( lớp 10A2 NH ) và tôi chuyển trường cùng học lớp 11C Quốc Học . Chúng tôi hay đến nhà cô ở Vỹ Dạ ( Huế ) chơi và khoe cô việc hai chúng tôi thay nhau dẫn đầu lớp 11C QH , cô rất vui . Do xa nhà ( gia đình chúng tôi vẫn ở các trại tạm cư Đà Nẵng ), chúng tôi thường về thăm nhà, nhưng không có người thân xin phép nghỉ học. Trường Quốc Học Huế rất nghiêm, chỉ cần vắng 1 ngày không phép là gửi ngay giấy mời phụ huynh học sinh lên gặp ( chúng tôi gọi đùa là gửi “mandat” ) . Đăng và tôi phải đến nhờ cô bảo lãnh giùm. Sau khi trách mắng , cô gặp thầy giám thị xin cho chúng tôi. Có một lần, chúng tôi đến nhà cô chơi. Trong gia đình cô hình như có chuyện gì không vui , chúng tôi không được đón tiếp như mọi khi . Chúng tôi giận , tránh mặt cô (dù gặp trong sân trường ) nhiều tháng liền . Điều này làm cô buồn lòng. Chưa kịp xin lỗi cô , thì sự kiện lịch sử mùa xuân 1975 xảy ra , tôi vào Bình Tuy với gia đình , không tiếp tục học Quốc Học nữa . Cô , trò từ đó không liên lạc với nhau . Viết những dòng này, em xin cô bỏ qua cho những phản ứng nông nổi , trẻ con của em lúc đó , mong cô luôn vui khoẻ và đầy ắp tình cảm bao dung như thuở nào .
Thầy Lê Quang Dị , dạy công dân giáo dục , thầy thường cho học sinh lên bảng diễn thuyết , tự giới thiệu về mình. Sau này , thầy chuyển về Huế , chúng tôi hay đến nhà , thầy trò nói chuyện khá tâm đắc .
Thầy Lê Văn Gioang dạy Pháp văn ( sinh ngữ 2) . Thầy nghỉ nhiều do sức khoẻ yếu ( bệnh phổi ) nên chúng tôi học Pháp văn bị gián đoạn, hết năm lớp 10 chỉ học xong bài 8 trong cuốn “Cours de Langue et de Civilisation Francaises” tập 1 của G. Mauger. Lúc ra học lớp 11C Quốc Học Huế , đầu niên khoá chúng tôi bắt đầu học bài 30 cũng sách trên. Nhờ sự tự học trong hè 1973 , chúng tôi mới bắt kịp chương trình và không để thua kém các bạn Huế .
Thầy Nguyễn Đôn Hộ dạy lý hoá còn trẻ, mới ra trường nhưng đã có phong thái đĩnh đạc. Thầy khá nghiêm khắc, có phản ứng gay gắt với những nữ sinh tinh nghịch . Thầy Hộ hát hay, ăn nói có duyên ( khi đã hoà đồng cùng học sinh trong các buổi dã ngoại ), lại có kiến thức khá rộng ( không chỉ trong môn lý hoá của thầy ) . Nhiều nữ sinh có vẻ xao xuyến , thường chụm lại bàn tán “chuyên đề ” về thầy. Không ít nam sinh đau tim vì “người trong mộng” tỏ ra hờ hững với mình nhưng lại chú trọng đến thầy Hộ .
Thầy Lê Ngọc Dinh, dạy sử địa rất hay. Thọc tay vào túi quần, thầy lôi cuốn học sinh bằng những bài giảng hấp dẫn không chỉ trong phạm vi sử địa mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi văn chương, chẳng hạn câu chuyện “ Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ”. Học sinh chúng tôi đồn rằng thầy là một cao thủ đai đen Judo, vì vậy những đám đánh lộn trong trường thường tự động “bỏ cuộc” khi thấy bóng dáng thầy.

Lớp 10A3 chúng tôi được thầy cô dẫn đi dã ngoại ở Nam Ô (Liên Chiểu , Quảng Nam , gần đèo Hải Vân ) , và tự tổ chức đi chơi chùa Non Nước (Ngũ Hành Sơn) , cách Trại 5 Non Nước khoảng 10 km .Chúng tôi còn giữ được một số ảnh chụp của lớp trong những chuyến đi dã ngoại đó . Trên núi Non Nước , Trương Đăng Hùng , một bạn rất khéo tay đã dùng dao đẽo khắc vào tảng đá tên lớp 10A3 và ngày tháng khắc , rất đẹp . Giờ đây tảng đá có còn chăng hay tan biến theo bụi thời gian ?
Thương thắm thiết lớp mười xưa cũ đó
Tảng đá buồn rêu phủ tên A3 ?
Thương Non Nước hang sâu cùng dốc núi
Mây bay về ai nhắn kể chuyện ngày qua
Lan và Thắm còn than chăng chân mỏi
Hường , Trúc ơi vẫn ngọt nước dừa tươi
Trên đỉnh núi nhấm hoài vắt xôi dẻo
Thoáng mắt nhìn Thân có thấy bồi hồi