Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Liên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Liên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2013

Lê Liên - CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ "TRƯỚC SAU" CỦA VĨNH THUYÊN

Nhà thơ VĨNH THUYÊN














TRƯỚC SAU
Thơ Vĩnh Thuyên

Muốn bỏ lắm
trước sau nhiều thứ
Bấm đốt tay nhẩm đếm
lại mình
Trừ quỹ thời gian
cộng thêm một tuổi
Trời không chia
ai nhận tội tình

Đêm sau lưng
phía trước bình minh
Ngày tháng hết
đời đâu chắc hết
Trước là không
lưng chừng là có
Để cuối cùng
có phải thành không

Trước xin lỗi
sau đành chịu lỗi
Thiên đường buồn
địa ngục có vui
Trần gian ơi!
em đừng đóng cửa
Chờ anh về
dù muộn chưa nguôi...



LỜI BÌNH: 
Lê Liên

Tác giả LÊ LIÊN
            Đọc thơ của VT luôn cho người ta những khoảnh khắc trầm tư rất sâu lắng. Anh đã sử dụng từ ngữ rất đời thường, giản dị, có vài từ đồng âm hai nghĩa. Anh như chắt lọc những trăn trở từ cuộc đời để làm nhựa mật cho thơ. Thật quý, vì trong bài thơ này ta chiêm nghiệm được sự tinh tấn của nhà Phật và Tín lý thâm uyên của Thiên Chúa giáo.

          Như thi hữu Lê Hào viết: “Một cách nhìn về cuộc đời ... đầy cảm xúc chân thành. Triết lí làm chất men cho thơ anh VT".

        Còn thi hữu Nghiêm Khánh: “Một chiêm nghiệm cuộc sống tuyệt vời. VT tổng kết thật sâu sắc gần như toàn diện … những vần thơ có phần giống như tự tình của anh".

          Mỗi khi đề cập đến TRƯỚC SAU, thường cho ta ít nhất hai khái niệm: KHÔNG GIAN và THỜI GIAN .

Mở đầu của bài thơ:

"Muốn bỏ lắm
trước sau nhiều thứ
Bấm đốt tay nhẩm đếm
lại mình”

           Trước sau ở đây thấp thoáng quá khứ và hiển hiện tương lai (THỜI GIAN). Trong chừng mực nào đó, ta liên tưởng đến sự bất khả kháng: “Bỏ thì thương, vương thì tội ”. Muốn bỏ ở đây không phải là sự chối từ. (Chẳng phải sự ôm đồm như vốn dĩ nó đã hiện hữu, tồn tại trong đời sống này rồi đó sao?!)

           Muốn bỏ (mà bỏ không được) ở đây cũng chẳng phải biện hộ cho sự luyến tiếc, ngán ngẫm.

           Trong trường đời này, mỗi chúng ta không ai thoát khỏi quy luật ĐO LƯỜNG, mà tiên khởi của nó là TOÁN HỌC. Nền tảng của Toán là phải biết ĐẾM. Khi còn thơ, chúng ta học đếm trong phạm vi mười đầu ngón tay trước. Từ đó mới biết CỘNG, TRỪ, NHÂN, CHIA … Có rất nhiều lúc chúng ta phải dùng các phương tiện khác (bút, thước, giấy mực, máy tính ...) để tìm đáp số cho từng bài toán cuộc đời. Nhưng rồi có những lúc với chính mình, thì phản xạ tự nhiên của chúng ta hay của VT là “Bấm đốt tay nhẩm đếm … lại mình ” như một nhắc nhở, như một kiểm nghiệm bản thân chứ không mang tính so đo được - mất, hơn - thua.

“Trừ quỹ thời gian
cộng thêm một tuổi”          

Với bài toán trừ này chẳng ai thích cả, dẫu biết rằng tuổi thọ con người không đo bằng năm tháng mà được nhớ tới bởi ý nghĩa cuộc sống mà họ để lại tồn tại bao lâu cho đời.

“Trời không chia
ai nhận tội tình”

Đến cả bài toán Chia của Đấng Tối Cao, con người cũng miễn cưỡng nhận nó: Như những Kito hữu  nhận THÁNH GIÁ CHÚA BAN, như Phật Tử  nhận NGHIỆP BÁO của mình vậy. Ước gì, ai  ai cũng hoan hỉ nhận phần số của mình thì có lẽ đời sống tinh thần sẽ nhẹ nhàng hơn.

Dường như với hai câu “Trời không chia /ai nhận tội tình”, VT vừa muốn thừa nhận, nhưng cũng vừa muốn ngầm phủ nhận đi luật nhân quả này.

“Đêm sau lưng
phía trước bình minh
Ngày tháng hết
đời đâu chắc hết
Trước là không
lưng chừng là có
Để cuối cùng
có phải thành không”

           Với khổ thơ này, VT đi vào khái niệm của thời gian, không gian và sự vô thường ở cõi tạm này. Chúng ta nhận ra suốt cuộc đời tác giả rong đuổi theo những chuyến đi. Đêm là cảnh giới của nghỉ ngơi, để tái tục sinh lực, cho nên người ta cũng cần THỜI GIAN và một KHÔNG GIAN tối giản nào đó để ngã lưng. Nhưng với VT thì gần như chỉ được dựa lưng với giấc ngủ vội trên những chuyến xe, không gian phía sau lưng nhà thơ quá nhỏ so với thời gian tác nghiệp và khối lượng công việc đã hoàn thành hoặc đã và đang phải cưu mang.

              Đối nghịch của phía sau là không gian phía trước quá rộng lớn. "Phía trước bình minh", vâng, bình minh đang vẫy gọi. Bình minh cũng có nghĩa là công việc đang chờ, là cuộc sống đầy ắp ước mơ ... hiện hữu không ngừng vận hành.

           Tất bật cho cuộc sống là thế, thời gian vẫn qua nhanh, cho nên VT tự tiếc nuối không đủ thời gian phục vụ cho đời “Ngày tháng hết / đời đâu chắc hết”.

            Dù biết rằng hiện tại tất nhiên mình đang sở hữu (nhiều thành quả), còn ngày mai hiển nhiên chỉ là ẩn số. Bởi, chung cuộc, vẫn là Sắc Sắc Không Không. Tất cả chỉ là Vô Thường. "Trước là không/ lưng chừng là có/ Để cuối cùng / có phải thành không”.      
         
 “Trước xin lỗi
sau đành chịu lỗi
Thiên đường buồn
địa ngục có vui
Trần gian ơi!
em đừng đóng cửa
Chờ anh về
dù muộn chưa nguôi...”

           Trong khổ thơ cuối này, nhà thơ dùng từ “đành” như là đỉnh cao của ngôn ngữ, để làm sáng lên Trước Sau vẫn thủy chung với mối sám hối và lòng trắc ẩn khôn nguôi!

          “Đành” nghe thật thấm thía khi VT nhận ra cái giới hạn của con người trước những đa đoan của cuộc sống!

          "Đành" ở đây không phải là một hành vi đại khái qua loa, cho qua chuyện, khiến ta khó chấp nhận vì sự  tắc trách.

          Hoặc "đành" ở đây cũng không phải là cam chịu một cách tiêu cực, để rồi nó cho ta cảm giác xót xa cho chính tác giả, mà cảm thông!

         "Đành chịu lỗi" giúp ta mường tượng đến cách ứng xử có ý thức, đòi hỏi kiểm thảo bản thân một cách nghiêm túc,  trước mọi sự việc, và đón nhận thiếu sót, bất cập của mình với tấm lòng quảng đại của con nhà Phật, khiêm nhu như con Chiên của Chúa khi đấm vào ngực mình thưa rằng: "Lỗi tại tôi, Lỗi tại Tôi, Lỗi tại Tôi mọi đàng". Nhà thơ dùng từ "chịu" ở đây thật khiêm nhu, thật chân thành, cho mình mắc nợ cuộc đời. Nếu như trót mang nợ thì ai cũng  muốn hoan hỉ trả nợ một cách hậu hĩnh, hào phóng cả. 

        "Sau đành chịu lỗi" là dũng khí của chính nhân, là đức độ quân tử. Thật thanh cao!

          Nhà thơ Vĩnh Thuyên như vẫn tuận theo chuẩn mực của Người xưa dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Nhưng thật hay là trong toàn bộ bài thơ, không thấy dấu hiệu của trách móc người khác, mà chỉ tự vấn lại chính mình.Thật là đáng ngưỡng mộ.

  "Thiên đường buồn
  địa ngục có vui"

           Trong ý niệm của thiên hạ,  làm gì có Thiên Đường buồn? Quả thực, điều này không phải là Nghịch Lý. Nếu như những người thân của chúng ta Về Quê Trời mà vẫn mang theo ưu phiền , khi chưa hoàn tất phần đời của họ nơi trần gian này. Nếu như chúng ta sống không tốt, làm ô danh người đã khuất, thì Thiên Đường của họ không trọn vẹn niềm vui. Nếu chúng ta sống mà không cảm nhận được Hạnh Phúc, thì trần gian này vốn là địa ngục rồi!

          Hai câu "Thiên Đường buồn /Địa ngục có vui" cho thấy chúng ta sống không phải chỉ có trách nhiệm với bản thân, có nghĩa vụ với nhau, mà còn tri ân với cả những người đã khuất. Đó là Đạo Lý tốt đẹp vốn có từ ngàn xưa, cần được chúng ta duy trì .

          Trong tác phẩm "Tâm Hồn Cao Thượng " (Hà Mai Anh dịch) có đoạn: "... Con ơi! Ngày con mở mắt chào đời, mọi người chung quanh cười vui đón mừng, thì con lại khóc. Con hãy sống thế nào để khi con nhắm mắt lìa đời: con thì mĩm cười, còn mọi người chúng quanh lại nhỏ những giọt nước mắt tiếc thương con …" .

        Khi tự tình "Thiên Đường buồn /Địa Ngục có vui", phải chăng nhà thơ Vĩnh Thuyên đã giúp cho chúng ta nhận ra giá trị cuộc sống không đơn thuần là phần thuộc thể, mà luôn có mối tương quan mất thiết của thuộc linh?  

Và đây là một chung cuộc đẹp! Khi VT tha thiết gọi :
“Trần gian ơi!
em đừng đóng cửa
Chờ anh về
dù muộn chưa nguôi...”

         Trần Gian trước là ẩn dụ cho những bộn bề, mỏi mệt của đời sống, thì VT vẫn không ngao ngán, mà muốn tận hiến cho cõi đời cả tấm lòng của mình, với niềm khát vọng khôn nguôi. Như có lần cố nhạc sỹ Trịnh Công Sơn bộc bạch: "Sống giữa cuộc đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận thì hữu hạn, tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu, để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời". Phải chăng đó là tư tưởng lớn mà chúng ta cần học hỏi? 

          Vốn là một người đa mang, với trái tim nóng bỏng yêu đời, chẳng ai ngạc nhiên khi nhà thơ cần sự đồng cảm, rồi cùng đồng hành với mình trong cuộc sống. Cho nên, trần gian cũng là ẩn ngữ về một hồng nhan tri kỷ. Sẽ thật hạnh phúc khi có tình thân "mở cửa lòng" đón mừng, chia sẻ với mình khi lao đao, hoạn nạn, lầm lỗi ... sau những rong đuổi bên đời.

         Có lẽ chúng ta từng đọc được một ý niệm rất đơn giản về Hạnh Phúc "Hạnh phúc là có việc gì đó để làm, có ai đó để yêu thương và điều gì đó để hy vọng".

         Bài thơ Trước Sau của Vĩnh Thuyên rất khúc chiết, rất logic, rất có hậu, lại mang dung lượng lớn cho những triết lý sống tích cực, khiêm nhu, hòa ái.

          Cảm ơn nhà thơ Vĩnh Thuyên với những suy tư rất đời, với những góp nhặt rất thực, lời thơ đơn giản, mộc mạc vốn mang chân chất của Thiền đã góp cho vườn thơ luôn đơm hoa tươi đẹp, kết trái ngọt lành.

Lê Liên
tuongphuc4758@yahoo.com

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

Lê Liên - CẢM NHẬN BÀI THƠ “DẠ, THƯA MẸ, CHÚNG CON ĐÂY!” CỦA VŨ MIÊN THẢO





Dạ, thưa Mẹ, chúng con đây!
Thơ Vũ Miên Thảo

Giờ xa lắm tuổi mười lăm
chạm mây trắng
tóc lâm râm màu chiều
buổi về, lay dấu chân xiêu
thềm xưa mẹ đợi
gió liu riu mùa
thương nhiều lắm những thiệt thua
còng lưng gánh sống
chợ trưa – vườn chiều
cho trăng sáng mắt tin yêu
cho hoa rạng má môi điều ngây thơ
chòng chành suốt chặng đường mơ
áo sương, khăn gió
làm ngơ cuộc tình
têm trầu
thêm nữa linh đinh
cau thâm môi
chát chữ tình trăm năm
trắng tinh ly ngọc âm thầm
sợ giao bôi rượu
rót lầm đắng cay
mẹ cười
lời gió trăng bay
chiều ba mươi tết
vui vầy đón xuân
lá mai mẹ lặt hôm rằm
đếm ngày hoa nở cuối năm
con về

Dạ thưa Mẹ!
chúng con đây
hoa vườn nở cánh
môi đầy nụ xuân!

          Vũ Miên Thảo


 Lời Bình của Lê Liên

                 Ngay tựa đề bài thơ tác giả như ngầm chia sẻ với chúng ta về người Mẹ của ông. Cho nên, chúng ta chẳng dại gì mà không nhận đó là Mẹ chung của chúng ta kia chứ! Và tôi viết bài này như một tâm tình chung của con về Mẹ - Mẹ của tất cả chúng ta.

                Thật vậy, tạo hóa ban cho chúng ta kỳ quan vỹ đại nhất đó là TRÁI TIM NGƯỜI MẸ.
                Cho dù tâm hồn ta cằn cỗi, trái tim ta chai sạn thì ta cũng không bao giờ vô cảm trước tấm lòng của Mẹ. Trong suốt cuộc đời mình có biết bao lần chúng ta quay về ẩn náu trong trái tim của Mẹ? Tác giả VMT cũng thế, khi mệt mõi với thế sự, thì tóc đã điểm hoa râm, sự dày dạn của một người từng trãi cũng phải có lúc quay về  nương bóng Mẹ hiền. Như Chế Lan Viên đã từng nói thay cho Mẹ, mà đó cũng là tiếng lòng của ông :
                         Con dù lớn vẫn là con của Mẹ
                         Đi hết đời, lòng Mẹ vẫn theo con        
                 Nhưng VMT  không phải tìm về Mẹ của thời thơ dại, cứ thích là sà ngay vào lòng Mẹ ngay, bất kể lúc nào, bất kỳ ở đâu, như Nguyễn Duy:                
                        Ngồi buồn nhớ Mẹ ta xưa
                        Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương 
                (Í chà! Lúc đó, nhỏ tí xíu, chỉ biết nuốt cơm theo phản xạ tự nhiên, như đón nhận tình yêu của Mẹ mớm cho, rồi cứ thế là lớn)
                 Mẹ của của VMT là Mẹ dạo tác giả ở tuổi mười lăm, cái tuổi quá lứa của trẻ con, nhưng cũng chưa được công nhận là người lớn. Ương ương, ngạnh ngạnh, thích tự khẳng định mình, thích làm người lớn, cho nên chỉ chực thoát ly ra khỏi cung lòng của Mẹ!
                         Giờ xa lắm tuổi mười lăm
                         chạm mây trắng
                         tóc lâm râm màu chiều
                         buổi về, lay dấu chân xiêu         
                Ở tuổi mười lăm có rất nhiều ấn tích mâu thuẫn nội tâm khi hướng về Mẹ. Bỗng dưng tôi yêu âm thanh ồm ồm của mấy cậu con trai khi bể tiếng gọi "Mẹ Ơi ", Mẹ ơi chi lạ.  
                         buổi về, lay dấu chân xiêu
                         thềm xưa Mẹ đợi
                         gió liu riu mùa
                "Gió liu riu .... "nghe sao chạnh lòng ... cứ như nỗi buồn tẩm quất vào lòng triền miên vậy! Lại kèm theo " ... mùa". Câu thơ đó làm ta liên tưởng đến sự mặc nhiên lập lại theo chu kỳ, cho ta hiểu sự nín chịu, dẻo dai của Mẹ. Và tác giả thốt lên: 
                         Thương nhiều lắm những thiệt thua
                         còng lưng gánh sống
                         chợ trưa-vườn chiều
               (Tự nhiên tôi nhớ tới hai câu thơ được nhiều nhà Thư Pháp viết bằng cả lòng thành tín khi phóng nét son: 
                         Cánh Cò cõng nắng cõng mưa,
                         Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương)
              “Chợ trưa”: không gian yên ắng, quạnh quẽ khi chợ đã tàn, dẫu chỉ biết họa hoằn lắm mới có khách vãng lai, nhưng Mẹ cũng nán lại, cố vớt vát xem có kiếm thêm được gì không? Mẹ là thế! Ngày ngày tần tảo, bòn mót, chắt chiu từng chút một.
               “Vườn chiều”: nghe sao hoang vắng quá! Cuối một ngày lao nhọc  thân thể rã rời, Mẹ vẫn mỗi ngày bươn chải, lam lũ, chịu thương chịu khó, không tính thiệt thua với gia đình miễn là các con trưởng thành:
                       Cho trăng sáng mắt tin yêu
                       cho hoa rạng sáng môi điều ngây thơ  
             (Đọc tới đây, tôi nhớ câu ca dao:
                       Mẹ già hết gạo treo niu
                       Mà anh khăn đỏ, khăn điều vắt vai)   
             Mẹ là vậy! Bao giờ cũng muốn chăm chút cho con những gì tốt đẹp nhất, bởi vì mỗi chúng ta đều là báu vật của Mẹ.
             “Cho hoa” , “cho trăng”:  đây là ẩn dụ, cho ta biết đó là các con của Mẹ. Và Mẹ cho con hết cả nhựa sống Mẹ có.
             "Môi điều ngây thơ": hình ảnh đôi môi đỏ thắm, khuôn mặt sáng ngời tin yêu, hồn nhiên, vô tư của con cũng là động lực cho Mẹ vượt qua những lao đao của cuộc đời không chỉ vật chất, mà ngay cả trong nỗi niềm thầm kín, Mẹ cũng không dám đón nhận chút hạnh phúc cho riêng mình. Mẹ thức khuya dậy sớm (“áo sương, khăn gió”), đối phó lặng thầm, đơn độc trước sóng gió cuộc đời, và hy sinh cả tình cảm riêng.
                     chòng chành suốt chặng đường mơ
                     áo sương, khăn gió
                     làm ngơ cuộc tình
             Bởi Mẹ sợ khi bước thêm bước nữa, sẽ có những biến động trong cuộc sống làm tổn thương người thân, gây ra khó xử cho nhau:
                     Cau thâm môi, chát chữ tình trăm năm  
             Mẹ hy sinh giữ cho: "Trắng tinh Ly Ngọc âm thầm",  mà tự an ủi:
                     sợ giao bôi rượu
                     rót nhầm đắng cay  
              Bà Mẹ nào cũng thế! Con cái là ưu tiên số một của Mẹ, chúng chi phối mọi cảm xúc của Mẹ, cho nên, cái gì liên quan đến con cái luôn có sức bật kỳ diệu của tình mẫu tử. Còn riêng đối với Mẹ thì nó chỉ là sự từ ái :
                     Mẹ cười
                     lời gió trăng bay
rất mỏng mảnh phiêu diêu, mà tấm lòng thì bao dung quảng đại. Và ta thấy Mẹ chẳng dành gì cho Mẹ cả.
                     Mai Mẹ lặt hôm rằm
                     đến ngày mai nở cuối năm
                     con về.         
             Những nhà chăm sóc Hoa Mai cho kịp đón tết thường lặt lá trước đó hai tuần, để cây mai tập trung sức nẩy lộc, đâm chồi rồi dưỡng hoa, chứ không nuôi lá.
            Mẹ cũng thế. Có lẽ trong hai tuần cuối cùng này, Mẹ ở trong trạng thái nôn nao,  mong đợi các con của Mẹ trở về. Sức sống này thật là mãnh liệt.
                     Dạ thưa Mẹ!
                     Chúng con đây
                     Hoa vườn nở cánh
                     Môi đầy nụ xuân!        
            Đọc đến đây sao tôi thấy hạnh phúc lâng lâng trong lòng. Ai cũng rạng rỡ niềm vui trao ban cho nhau. Hai câu thơ cuối là đỉnh cao của nghệ thuật ngôn ngữ. Hoa vườn là kết quả của nổ lực yêu thương đã hình thanh nên con cái, “nở cánh” để lớn lên mạnh mẽ. "Nụ xuân" của tác giả làm tôi hình dung đến nụ cười móm mém, tràn đầy yêu thương, mãn nguyện và rất đổi mộc mạc của Mẹ.

            Cảm ơn nhà thơ Vũ Miên Thảo đã cho mỗi chúng ta biết yêu chiếc bóng lặng thầm của Mẹ.
            Mẹ chỉ biết hành động  theo mệnh lệnh của trái tim luôn  quy hướng về con cái.
            Cảm ơn Mẹ - Mẹ hiền của chúng con.  
            Phải chăng, tựa đề bài thơ “Dạ, thưa mẹ, chúng con đây!” nhắc cho chúng ta mấy câu ca dao thay cho lời kết :
                      Mẹ già bất khả viễn du  
                      anh đi chơi cho cách mấy
                      tối công phu anh cũng phải về.

LÊ LIÊN
tuongphuc4758@yahoo.com

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Lê Liên - Cảm nhận về bài thơ NHỎ BẠN NGÀY XƯA của Kha Tiệm Ly



Nhỏ bạn ngày xưa
Kha Tiệm Ly

Ngày lớn ròng hai lần con nước,
Mi nhỏ chưa cong, tóc nhỏ chưa dài.
Vú cau thẹn nằm sau áo ướt,
Ta nợ cái nhìn lúc tuổi mười hai!


Giã biệt nhỏ ta lên thành đi học,
Để nợ bãi bồi, để nợ dòng sông.
Không ai chọc, mà sao nhỏ khóc?
Làm bông bần rơi trắng mênh mông!

Một hạ ta về thăm sông cũ,
Tóc búp bê, giờ óng ả mượt mà.
Đinh áo chẻ cao, khoe chút da trắng muốt,
Thêm một lần ta nợ áo bà ba!

Hàng rào thưa ngăn nhà ta, nhà nhỏ.
Mà xem như cách mấy dòng sông.
Ai giả bộ đem áo ra phơi gió,
Để nhìn nhau, má nhỏ ửng hồng hồng.

Theo lốc xoáy, ta thành thân viễn xứ,
Cây bần xưa buồn bã đón ta về.
Vắng ai đó bên dòng sông năm cũ,
Mấy bông bần theo gió rụng lê thê.

Mười tám tuổi, nhỏ tay bồng tay bế.
Bởi con bướm vàng đậu nhánh mù u.
Ta chết lặng, nhỏ nhìn ta ứa lệ,
Ta nợ nhỏ rồi, ánh mắt thiên thu!

                                                  KTL

Lời bình của Lê Liên
Tác giả LÊ LIÊN

     Ai cũng có một nơi chốn để tìm về với kỷ niệm; nhà thơ Kha Tiệm Ly cũng có một dòng sông tuổi thơ với cây bần và cô bạn nhỏ thân thương. Họ bên nhau thật hồn nhiên, vô tư.Tất cả những dấu yêu đó như tràn ngập trong ký ức nhà thơ và cho đến mãi mãi sau này.

            Ngày lớn ròng hai lần con nước,
            Mi nhỏ chưa cong, tóc nhỏ chưa dài.
            Vú cau thẹn nằm sau áo ướt,
            Ta nợ cái nhìn lúc tuổi mười hai!

     Lẽ thường,Thi nhân hay dùng rất nhiều từ hoa mỹ để diễn tả một bộ phận đẹp trên cơ thể người con gái khi nó phát triển hoàn chỉnh:

     * Với Hồ Xuân Hương là "Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm".

     * Hay với Phạm Thiên Thư: "Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm".

     * Nhưng còn cậu bé KTL ngày ấy đã khám phá ra một hiện tượng lạ của nhỏ bạn rất đẹp và rất đỗi mộc mạc, dễ thương đến lạ khi dùng từ tượng hình "vú cau" thật ngộ nghĩnh để làm ẩn dụ cho ta biết Nhỏ đang chớm tuổi dậy thì, vẫn hồn nhiên tắm sông, để "vú cau thẹn nằm sau áo ướt ". Mà với người Việt thì trái cau rất gần gũi, mang nặng nợ duyên tơ tóc.

      Đọc tới đây tôi nhớ những nhân vật Thằng Côn, con Thúy, Thằng Vũ, thằng Vọng ... của Duyên Anh khi chúng ngây ngô châm chọc nhau:

            Con gái chơi với con trai,
            Về sau cái vú như hai quả dừa 

     Ngày đó, tôi cũng cùng trang lứa như Nhỏ của KTL vậy, mặt tôi đỏ bừng, xấu hổ, không dám đọc lại hai câu thơ đó thêm lần nữa, dù rằng trong tôi ý niệm về giới tính chưa rõ nét. Cho nên tôi hiểu NHỎ của KTL đã thẹn, nhưng chẳng biết vì sao mình thẹn, cảm giác rất mơ hồ.

        Ta tự hỏi: Vú cau thẹn, đó là phản xạ tự nhiên của con gái khi bắt gặp cái nhìn của người khác, nhìn vào cơ thể mình. Hay KTL chợt thẹn khi vô tình phát hiện ra vú cau khác thường của NHỎ? Tuy cái nhìn ấy không mang tính tình dục, nếu không nói là vô tư, nhưng chính vì cái khang khác ấy khiến KTL tự cho mình mắc nợ. Nợ cái nợ hồn nhiên của Nhỏ ở tuổi 12.

       Rồi cũng rất tự nhiên khi vào tuổi lớn, KTL phải từ giã làng quê, lên thành đi học, ai mà chẳng bồi hồi thương nhớ quê hương.

      Nếu như sông không có bên lở, bên bồi thì làm sao dòng sông lượn lờ, uốn khúc? Dòng sông cũng sẽ bớt nên thơ nếu thiếu đi màu xanh của rặng cây và bãi bồi nhấp nhô cát mịn. Phải, bãi bồi đó là nơi cất giữ biết bao kỷ niệm, cho nên khi chia tay, KTL tự ghi thêm cho mình hai khoản nợ:

             Để nợ bãi bồi, để nợ dòng sông

      Chính vì cái nợ này mới sinh chuyện:

             Không ai chọc, mà sao nhỏ khóc ?
             Làm bông Bần rơi trắng mênh mông

      Nghe sao buồn quá! Màu trắng thường cho ta cảm giác buốt lạnh, tang thương. Nhưng "bông Bần rơi trắng mênh mông"này lại cho ta nỗi buồn mênh mang, không thể xác định được tên của nỗi buồn ấy là gì? Tâm tình của cả hai người lúc này là tâm tình của láng giềng? của anh em? của người yêu? hay của bạn hữu?

            Một hạ ta về thăm con sông cũ
            Tóc búp bê, giờ óng ả mượt mà
            Đinh áo chẻ cao , khoe chút da trắng muốt
            Thêm một lần ta nợ áo bà ba !

     Theo từng mùa hạ qua đi ... có một mùa hạ để lại ấn tượng trong lòng: Bấy giờ, thì đường nét thanh xuân của Nhỏ đã phô diễn trọn vẹn rồi.

     Thật vậy, với Phạm Thiên Thư:

            "...Như Lai thường trụ trên tà áo xuân
             vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền ... "

      Cô thanh nữ của Phạm thiên thư thánh khiết quá đi! Và Nhỏ của KTL cũng đâu có kém gì? Cho nên KTL lại tự ghi nợ cho mình thêm lần nữa khi ngắm Nhỏ mặc áo bà ba. Chiếc áo rất thân quen của thiếu nữ miền quê ấy đã tôn lên nét đẹp xuân thì của Nhỏ. Nó thừa sức thu hút ánh nhìn của nhiều giới phái, từ nhiều góc độ khác nhau: trước sau, nghiêng thẳng, phải trái ... nó có sức hấp dẫn đến lạ thường.

     Có ai chắc cái nhìn này không gợn chút tình dục? Chẳng có chi xấu cả, đó là lẽ tự nhiên, bởi tình dục là quà tặng diệu kỳ mà thượng đế ban cho những đôi lứa yêu nhau.Và có mấy ai từ chối chiêm ngưỡng vẻ đẹp kia chứ?

    Và này, nếu ngày xưa Nguyễn Bính có cô Hàng Xóm:

           Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
           Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn
 
thì nhà của KTL và Nhỏ cũng chỉ là:

          Hàng rào thưa ngăn nhà ta, nhà nhỏ
          Mà xem như cách mấy dòng sông.

     Khi người ta đã có tình ý với nhau rồi, thì chỉ mong ước không còn có khoảng cách địa lý nữa! Ừ nhỉ? Chỉ có hàng rào thưa thôi, chẳng che chắn nổi tầm nhìn, vậy mà với đôi bạn sao nó xa vời vợi?

     Phải chăng lúc này đã chín chắn hơn một chút, và đôi bạn biết "giữ kẽ" với nhau khi mà "Tình trong tuy đã, mặt ngoài còn e" (ND) không nhỉ?
        
      Để rồi,

              Ai giả bộ đem áo ra phơi gió,
              Để nhìn nhau, má nhỏ ửng hồng hồng ...

     Thật dễ thương! Chẳng biết KTL hay Nhỏ làm bộ đem áo ra phơi nhỉ? Kệ, ai cũng được, miễn là trông thấy nhau cho nỗi nhớ ánh hồng trên má là đủ rồi! Bởi vì trời có nắng đâu, trời chỉ đong đầy gió, thế mà thân nhiệt vẫn tăng lên khi nhìn thấy nhau! Ôi, cái bẽn lẽn và hành vi kiếm cớ phơi áo thật vụng dại, nó mới đáng yêu làm sao! Chẳng trách nó đã làm cho chàng trai KTL hào phóng tự ký thêm một khoản nợ: Cái nợ tuổi xuân thì của Nhỏ khi mặc áo bà ba!
       
      Cuộc đời của mỗi chúng ta luôn gắn chung với vận mệnh của đất  nước. Thời cuộc đẩy đưa KTL rồi cũng trôi xa cùng với  giòng đời:

            Theo lốc xoáy, ta thành thân viễn xứ ".
            Đã đi xa, ai cũng mơ có lúc quay về cố hương ...

       Nếu như Huy Cận diễn tả nỗi trống vắng:

             Sông dài, trời rộng, bến cô liêu

       Thì KTL may mắn hơn khi quay về dòng sông cũ còn có:

             Cây Bần xưa buồn bã đón ta về.

       Than ôi! Nhỏ ngày xưa đã sang ngang, bỏ lại dòng sông, bỏ lại cây Bần trơ trọi, buồn hiu đứng đợi người xưa.

       Khi  trước, KTL lên thành đi học, "bông bần rơi trắng mênh mông", bông Bần lúc ấy cùng mang hai tâm tình: kẻ ở, người đi. Thật mang mang chưa định dạng được nỗi buồn chia xa ấy là gì? Còn giờ đây "bông Bần theo gió rụng lê thê!" chỉ mang tâm trạng riêng của một người cô đơn, cảm giác trống vắng khi trở về bến cũ.

       Động từ RỤNG nghe sao sầu thảm quá chừng, cứ như không còn nhựa sống vậy! Tự thân nỗi buồn càng chồng chất nỗi buồn bởi nó theo gió rụng lê thê.

      Gió ở đây cũng diễn tả cho nỗi buồn, vô định, vô lượng bởi chẳng ai cân, đo, đong, đếm được gió. Cho nên nỗi buồn đó quá lớn, lây lan khiến bông Bần cũng theo nó mà rụng lê thê!

      Có thể nói Bông Bần cũng là cõi lòng của tác giả nữa, nó chất chứa nỗi thất vọng ê chề. Nỗi buồn lê thê rụng vào nỗi buồn chất ngất của tác giả. Khổ thơ này cho ta lạc vào cõi hoang vu, với nỗi buồn man mác, chập trùng, sâu thăm thẳm, dài hun hút.

      Cũng chưa hết khi khổ thơ cuối cùng như một điệu buồn quen thuộc của duyện phận bẽ bàng:

            Bởi con bướn vàng đậu nhánh mù u

     Nó lại cho ta liên tưởng: Nhỏ là một thiếu nữ đại diện cho tập tục tảo hôn ở miền quê VN. Cho nên mới:

     "Mười tám tuổi, Nhỏ tay bồng tay bế", để rồi cũng chạm phải nỗi đau khi người mẹ trẻ không có cuộc sống lứa đôi hạnh phúc khi:

             Ta chết lặng, nhỏ nhìn ta ứa lệ

     Thiết nghĩ, mỗi bài thơ hay đều có "từ khóa" để mở ra chân trời riêng, ẩn chứa khát vọng của nó! Trong câu thơ này, tác giả đã dùng từ ỨA LỆ để diễn tả cho nỗi niềm đau xót của Nhỏ khi gặp cố nhân!

      ỨA LỆ  chính là từ khóa của cả bài thơ tình rất đẹp này! 

      Nó hàm chứa nỗi đau được nén chặt, nén chặt dưới nhiều áp lực quá cao: chỉ chực chờ bung vỡ. Nhưng không được phép bung vỡ, mà phải chôn sâu vào tận đáy lòng.
       
      Ứa lệ: thật oái ăm khi mà Nhỏ rất muốn khóc mà không dám khóc. Và biết chắc rằng: khóc sẽ nhận được sự đồng cảm nhưng không dám chia sẻ, mà chỉ nên giữ nỗi cay đắng cho riêng mình thôi! Điều này cho ta biết sự cam chịu của Nhỏ là TRÁNH cho cố nhân  một nỗi đau ...

Ứa lệ, nghe chừng như có chút hờn tủi, cam phận.

Ứa lệ: vì biết chắc mãi mãi mình không trả được món nợ ân tình.

Ứa lệ: sự dồn nén, tức tưởi của con tim đang thổn thức vì chua xót, đắng cay nên dù nước mắt  đã tràn bờ mi nhưng cũng kiềm lại, cho nó chảy ngược vào tim (Thật, chẳng dễ dàng gì!).

Ứa lệ như một “đòn chí mạng" đánh bật gốc rễ bám sâu vào tâm hồn của đôi bạn.

     Nếu để gom hết những món nợ ân tình mà KTL đã  tự thiếu nợ Nhỏ Bạn ngày xưa thì nhiều lắm!

      * Nợ Vú Cau là nợ cái vô tư hồn nhiên tuổi thơ.

      * Nợ bãi bồi, dòng sông, là nợ nơi vun đắp, cất giữ kỷ niệm của hai người bạn nhỏ.

      * Nợ Bông Bần là nợ tâm tình của hai miền ký ức: KTL và Nhỏ với lần chia tay và lần trở về, với hai trạng thái tâm lý khác nhau.

       * Nợ áo bà ba là nợ Xuân Thì của Nhỏ.

     Những khoản nợ trên xuất phát từ cái nhìn của KTL, từ chính tâm hồn của tac giả.

      * Giá như ngày gặp lại nhau mà Nhỏ bộc bạch được tâm tình, rồi khóc nức nở, khóc sướt mướt, khóc thỏa thê ... cho trôi tuột muộn phiền, đắng cay thì KTL làm gì đứng chết lặng, tự gánh thêm khoản nợ thiên thu "xuất phát từ cái nhìn Ứa Lệ của Nhỏ".

      Từ Hải của Nguyễn Du chết đứng giữa trận tiền chắc đầu không lùng bùng với nhiều chiều kích tư tưởng, tim không co thắt từng cơn, từng cơn nhức nhối như KTL chết lặng trước cái nhìn ứa lệ của Nhỏ!

      Chiến trường nội tâm của cả hai người bạn lúc đó đã xung đột mãnh liệt, nhưng được bao phủ bằng sự thinh lặng, nhẫn chịu đớn đau ..
       
      Bỗng dưng tôi muốn mạo muội tản mạn thêm một chút ...

     Tôi đã đọc bài bình của Châu Thạch viết về bài thơ "Ta nợ ơn người" của KTL mà thấm thía rằng đời người có quá nhiều khoảng nợ trả - vay, vay - trả hoài không dứt được!  KTL đã từng kể nợ của mình với cuộc đời từ hạt lúa, nhánh bần, cánh diều, nghiên bút, bản thân mình ... đến:

            ..."Nợ mẹ, nợ cha, nợ thầy, nợ bạn
                 Thì đời ta đã sống ra người
                 Nợ sông núi ta làm phân bón đất
                 Nợ ân tình, không trả được em ơi!”

      Phải chăng cái nợ thiên thu này là một trong khoảng nợ ân tình mà KTL đã mang theo nó đến suốt đời, mãi mãi không trả được?
        
      Thực lòng mà nói, ta vẫn thấy KTL tự chuốc nợ vào thân.Vì ông vốn là một người đa cảm và giàu sỹ khí hào hiệp đó thôi! Bởi lẽ, xuyên suốt bài thơ này chỉ là kỷ niệm rất ngây thơ, trong sáng, mộc mạc ... khi còn thơ bé. Cho đến lúc lớn lên thời cuộc đưa đẩy xa quê hương, lúc trở về thì Nhỏ đã sang thuyền … như vậy Nhỏ mới là người mắc những khoản nợ mà KTL tự cưu mang chứ, nhỉ?

      Hay nói chính xác là KTL không có cơ may để trả cái nợ vụng dại, ngây ngô! Cái nợ đáng yêu thuở thiếu thời .... Chính vì sự bất đắc dĩ này mà chúng ta mới có một bài thơ tình rất hay, nói lên tâm hồn đẹp khi người ta biết cho hơn là nhận, biết nghĩ dùm cho đối phương, và biết để ý đến cảm nhận của người thân. Cảm ơn Kha Tiên Sinh, bởi vì với bút pháp nhẹ nhàng, trong sáng, văn phong bình dị, Kha tiên sinh đã cho chúng ta hiểu thêm cuộc đời này có những tấm chân tình rất đỗi thanh cao, rất đáng ngưỡng mộ.

LÊ LIÊN
tuongphuc4758@yahoo.com