Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tiểu luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

MÙA XUÂN QUA VĂN CHƯƠNG QUẢNG TRỊ - Phạm Xuân Dũng

                                           
    Theo vòng quay trái đất, trong tứ thời bát tiết thì mùa xuân có một ý nghĩa đặc biệt khởi đầu cho một năm mới, sinh thành một nguyên đán thời gian. Cũng chính vì sự riêng có của mình mà xưa nay mùa xuân vẫn thường gợi ý khơi tình cho biết mấy hoa trái văn chương.

    Từ trong mùa đông mất nước và nô lệ, nhà thơ trẻ tài ba Chế Lan Viên đã nhìn Xuân bằng đôi mắt chán chường, vô vọng:
                              Tôi có chờ đâu, có đợi đâu,
                              Đem chi xuân đến gợi thêm sầu?
                              Với tôi, tất cả như vô nghĩa,
                              Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
     Thật đúng như minh triết Nguyễn Du: "Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!"
     Sau này khi đất nước giành được độc lập, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình, thi sĩ đã thấy rằng mình: từ thung lũ đau thương ra cánh đồng vui. Thi nhân đã viết trong hứng khởi niềm xuân:
                             Con về với nhân dân như nai về suối cũ
                             Cỏ mọc giêng hai, chim én đợi mùa ...
     Nhà thơ áo lính Nguyễn Hữu Qúy hứng thú với lục bát dân gian mà dân dã đong đưa "Làm xuân" thêm ngọt ngào, tình tứ với một nhan sắc quê nhà:
                       Cầu lành, chẳng dựng nêu tre
                       Trúc xinh một dáng chở che lấy mình
                       Mỉm cười vớ nụ hồng xinh
                       Tối về, rủ bạn ra đình ý a ...
                       Nhớ giao thừa tuổi mười ba
                       Em đừng nước mắt kẻo mà bị giông
                       Lá răm ướm cặp đối hồng
                       Cứ vui như tết chưa chồng nghe em!
      Người thơ Võ Văn Luyến cứ dùng dằng, trắc ẩn khi biết mình "Lỗi hẹn cùng xuân":
                       Anh về muộn chân trời đùn mây trắng
                       Trang thư xanh gió lật sấp vô hồi
                       Nghe lồng ngực nhói đau nghèn nghẹn
                       Thời gian ngừng muối đọng mắt em tôi.
     Và một Hoàng Phủ Ngọc Tường thơ khi "Mùa xuân anh trở lại" chiến khu rừng cũ bời bời ký ức những ngày lên xanh của một người Việt Nam thật lòng yêu nước:
                     Mùa xuân này anh trở lại A Sao
                     Trong nỗi nhớ cánh rừng đã chết
                     Trong kỷ niệm hăng nồng mùi hóa chất
                     Chim phượng hoàng từ ấy đã bay xa

                      Lòng bồi hồi như trong giấc mơ
                      Anh đứng giữa cây rừng sống lại
                      Hái nhánh tùng của mưa ngàn gió núi
                      Anh trở về, sương khói trên tay.

    Nhà nghệ sĩ này đã cảm nhận thật tinh tế vẻ đẹp tinh khôi, tươi mới của mùa khai sáng bằng chắt lọc văn chương qua bút ký "Mùa xuân thay áo trên cây". Ông đã sáng tạo thêm một huyền thoại mùa xuân với giả định bềnh bồng thi sĩ:
     "Tôi tin rằng trong cuộc tiến hóa của nhân loại, có một số giá trị được tạo thành cùng lúc với ý thức sống của con người, ngay trong lòng những nhóm tộc nguyên thủy sống lẻ loi chưa hề biết tới giao lưu, thí dụ cách lấy lửa, cách làm ra rượu thô sơ nhất, và cả ý niệm huyền ảo thuộc về vũ trụ gọi là Mùa Xuân. Loài người biết tới lịch pháp từ những nền văn minh xa xôi nhưng ý niệm về mùa tất đã nảy sinh từ những đáy thời gian sâu thẳm hơn nhiều, qua kinh nghiệm sống của người tiền sử. Vậy thì tiếp theo sau những tên gọi như đá, nước, lửa, trái cây, thú rừng ... có thể Mùa Xuân là từ trừu tượng đầu tiên của người hồng hoang, do một gã thi sĩ cất lên để reo mừng hiện tượng bừng sống của trời đất sau những ngày dài lạnh lẽo phải sống trong hang đá."
     Chính ân sủng thiên nhiên trao tặng đã kích thích trí tò mò và óc tưởng tượng phong phú của người nghệ sĩ nảy mầm lên những xanh biếc văn chương. Cú hích của đất trời đã làm bà đỡ sinh hạ nên tác phẩm của con người mang tên là nghệ thuật, nghệ thuật của ngôn từ và nghệ thuật của tâm hồn đa cảm, của sự quan sát và cảm nhận tinh tường:
         "Có một ngày ra khỏi mùa Đông nhá nhem trên rừng, tôi mải mê nhìn cánh rừng tràn trề nắng ấm, nghe tiếng reo hát của dòng suối đã trong xanh trở lại, tiếng chim ngẳng gọi nhau "đi họ đi làng" trên những đồi cây lá nón, và chợt nhận ra quanh tôi, những hoa dại đầu mùa đã vẽ những nét màu sáng tươi trên mặt đất. Đó là những ngày tiếp theo sau cái Tết kháng chiến đầu tiên của tôi ở rừng Khe Trái, và cũng là lần đầu tiên trong đời, tôi ghi vào sổ tay lòng biết ơn chất phác với nhà thông thái bàn cổ nào đấy đã nghĩ ra cho nhân loại hậu thế cái tên gọi tuyệt vời này, Mùa Xuân."
      Nhà văn Lê Tri Kỷ, một người con của quê hương Quảng trị, nhà văn lực lượng vũ trang, từng là trưởng ty công an sau cách mạng Tháng Tám là cây bút chững chạc, đầy chất nhân văn cũng có những trang viết về mùa xuân đáng nhớ. Trong truyện ký "Những tiếng nói thầm" viết về nơi chôn nhau cắt rốn năm 1973 sau khi tác giả đã rời xa quê nhà một phần tư thế kỷ. Cách tự mố xẻ, phân tích tâm lý chân thực, sâu sắc và xúc động:
      "Một sáng đầu năm 1973, tôi trở về Quảng trị.           
        25 năm!
       Tại sao với một người chờ đợi quá lâu, thì lời nói đầu tiên khi hết chờ đợi thường là một lời về thời gian nhỉ?
       Lẽ nào những nỗi đau xé ruột, những thương nhớ thắt tim, những mừng vui kinh ngạc đến điên người, tóm lại, cái mớ cảm xúc bộn bề, sôi sục bị đè nén lâu ngày như thế khi vùng dậy, lại chỉ chứa đựng một ý niệm máy móc về con số?
       Cũng như mọi người, điều đầu tiên đến trong óc tôi khi xe qua cầu Hiền Lương là một ý nghĩ về thời gian xa cách. Nhưng mãi những khi viết những dòng này, tôi mới biết rằng lúc đó mình chưa hiểu thế nào là hai mươi lăm năm."
         Đúng là cách nhìn, cách nghĩ của nhà văn, luôn muốn chẻ sợi tóc làm tư luôn muốn tìm hiểu khám phá tâm hồn và trải nghiệm của con người và bản thân mình cũng không là ngoại lệ. Cảm giác gặp lại quê hương sau vài chục năm xa cách được nhà văn thuật lại thật sinh động và chân xác:
         "Nhìn quê hương Quảng trị tôi những ngày đầu giải phóng, mọi sự tưởng tượng đều huyễn.
         ...Hình ảnh quê hương đổi thay đến mức làm tôi choáng váng.
         Cái gì không còn thì đã trở thành ... hư vô. Nói thế vì không phải chỉ cái ấy mất đi. Còn mất theo cả vùng rộng lớn không khí quen thuộc, mất theo những tình người, những cách làm ăn, thói sống, những tiếng động quen tai, màu sắc quen mắt, tóm lại cái mà ta quen hiểu là hồn quê.
      Cái gì còn nguyên - con đường sống trâu bùn ngập đến gối, những mâm xôi gà lên miếu ngày rằm - thì mang về một sức ỳ ghê gớm.Ta nhận ra nó y như thời ta còn để chỏm, nhưng bây giờ mang thêm vẻ lạc hậu nặng nề, khiến ta bỡ ngỡ tưởng như mình bị đẩy lùi vào xã hội thời cụ, kỵ.
      Cái gì sống thoát đến ngày nay và đang lớn lên lại làm ta kinh ngạc. Một tình yêu thương gia đình trong ánh mắt lũ trẻ con mà cha mẹ chúng buổi ta ra đi, cũng chỉ là trẻ con, những người vợ mà sự tích thuỷ chung đáng được trăm lần đưa lên thần thoại, những anh du kích đã được đồng hương truy điệu, nay bỗng gặp lại trong cuộc họp thôn ... Tất cả những cái đó đã trở thành truyện thần kỳ mà ký ức về quê hương của chúng ta chưa bao giờ ngờ đến."
       Cách quan sát ngoại vật và nhìn xoáy vào nội tâm của chính bản thân mình cùng với sự trải nghiệm của gần một đời người khiến trang viết nhà văn vừa có độ xúc cảm mãnh liệt của cảm xúc, vừa có cách nhìn sắc sảo của tài quan sát lại có sợ phân thân trong phân tích tâm lý nhân vật đã nhận được tình cảm và tin cậy của người đọc. Đó cũng là một thành công đáng kể của tác giả.
      Mỗi mùa xuân đến, mỗi nhà văn, nhà thơ lại thêm nhiều cảm xúc, tâm trạng muốn được chia sẻ, giải bày với người khác. Bởi vì bản chất của mùa xuân là hội ngộ, đoàn viên. Dù có chia ly cũng hẹn ngày gặp lại. Và cứ mong đến mùa xuân lòng người thêm Nguyên Đán.

PHẠM XUÂN DŨNG
Đài PT- TH Quảng Trị
Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Đt: 0985.972.975 
dpthachthao@gmail.com

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Vũ Từ Sơn - VỊ THẾ VĂN CHƯƠNG

Tác giả VŨ TỪ SƠN


Những người cầm bút viết văn chương ở mọi chế độ xã hội, mọi thời đại là nhiều vô kể. Họ có thân thế, sự nghiệp rất khác nhau, có vị thế trong xã hội cũng khác nhau. Song văn chương của họ đều có chung một mục đích là khẳng định và vinh danh vị thế văn chương. Tất nhiên tác dụng của tác phẩm với xã hội, với chế độ là hoàn toàn khác nhau, với nhiều cung độ do trình độ, quan điểm, đạo đức và tài ba của người viết.
Tựu chung có hai dạng người viết văn chương: chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Những người viết chuyên nghiệp họ sống được nhờ tác phẩm. Số người này rất ít và đôi khi tác phẩm của họ chạy theo thị hiếu của độc giả để ... kiếm tiền sinh sống, do vậy, phần nào bị thiên lệch, mất tính chân thực, không lương thiện và khó tồn tại lâu dài.
Những người viết văn nghiệp dư thì ở mọi thành phần xã hội. Từ người có cương vị cao: vua, chủ tịch nước, tổng thống, tướng lĩnh, quan lại ... đến thường dân. Ví như ở  nước ta là: Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thánh Tông, Hồ Chí Minh ... , Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ ... và lớp dưới thì vô số với nhiều cung bậc.
Có người nói: Nhân loại hạnh phúc vì có  nhà văn! Đúng! Tương tự như vậy, ta có các nhận định với nhà khoa học, nhạc sĩ, kiến trúc ... Song, nếu nói: "Bản chất của nhà văn là cao cả" thì không chính xác. Ở đây ta phải xét đến nhà văn chân chính và không chân chính.
Vậy bản chất của họ là gì ? Nếu dùng từ cao cả thì chỉ có thể nói: Nhà văn là người có trách nhiệm cao cả, góp phần tích cực trong việc xây dựng và cải tạo xã hội. Nhà văn cao cả tự nguyện dâng hiến sự nghiệp văn chương của mình cho nhân loại, cho đất nước, cho xã hội. Tầm ảnh hưởng của nhà văn phụ thuộc vào tác phẩm của họ. Tác phẩm có "đứng" được không, có tồn tại lâu dài với độc giả hay không? Những tác phẩm kinh điển thì tồn tại mãi mãi với dân tộc, với đất nước, với loài người, như là: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Thủy hử của Thị Nại Am, Những người khốn khổ của Victor Hugo, Chiến tranh hòa bình của Lev Nikolayevich Tolstoy...
Đại cương khảo sát hai vấn đề: Bản chất của nhà văn và vị thế văn chương. 

Bản chất của nhà văn  
Để rõ thêm về hai từ "bản chất " ta phải nói đến "hiện tượng". Xét một người A, bắt đầu có hiện tượng ăn cắp, sau đó hiện tượng này cứ lặp đi lặp lại ... nhiều lần, dẫn đến bản chất A là kẻ ăn cắp. Mặt khác, nói đến bản chất là nói đến căn cốt. Thí dụ nói: Bản chất của đế quốc là xâm lược. Từ "cao cả "được dùng để chỉ những gì thuộc về tinh thần. Nhà văn đứng trên phương diện cao cả là dùng văn chương để góp phần phê phán, cải tạo, xây dựng xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Họ tự nguyện dâng hiến trí tuệ, công sức của mình cho xã hội. Vậy không thể nói: "Bản chất của nhà văn là cao cả" được!
Nguyễn Du viết "Truyện Kiều" hoàn toàn do tự nguyện và trên tinh thần cao cả, như ông đã viết: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như. Xuân Diệu cũng nói một câu rất hay: Cơm áo không đùa với khách thơ.
Vậy, bản chất của nhà văn là nhân văn, nhân bản; là khám phá, phát hiện, phản ánh, cải tạo; là hy sinh, dâng hiến; là  không màng danh lợi; là trung thực và lương thiện. 

Vị thế văn chương 
Trước hết nêu quan điểm của văn chương.Thời kỳ văn học Việt Nam (1930 - 1960) có sự tranh luận giữa hai quan điểm: Nghệ thuật vị nghệ  thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Chính vì hạn chế của mình về nghệ thuật, về văn chương nên chúng ta đã xử sự sai lầm với một số văn nghệ sĩ. Sau này đã có sự sửa sai, các tác phẩm của Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Hữu Loan ... mới lại được lưu hành. Chúng ta đã cởi mở lên rất nhiều, đã tiệm cận đến gốc của vấn đề. Rõ ràng là nghệ thuật phải "vị" nó (nghệ thuật) và cũng "vị" xã hội, chế độ (nhân sinh).
Vậy vị thế văn chương là gì? Có thể định nghĩa như sau: Vị thế văn chương là vị trí của văn chương trong chế độ xã hội, tư thế và thế đứng của văn chương trong xã hội ấy. Do vậy văn chương được xếp ở vị trí hàng đầu trong xã hội. Đây là vị trí đúng đắn và thích đáng cho văn chương. Tư thế của văn chương là chững chạc, nghiêm cẩn, đàng hoàng, cao sang.
Văn chương có thế đứng vững chãi, bề thế, có tác động sâu sắc đến xã hội, góp phần đắc lực trong cải tạo xã hội, tích cực phục vụ hay phê phán xã hội đương thời.

***

           Bàn luận về hai vấn đề nêu trên là tương đối mênh mông. Trong khuôn khổ một bài viết ngắn, người viết bài này cũng chỉ  khai mở khái quát, định hình. Hi vọng mong nhận được những ý kiến của các bậc trí giả và độc giả trên tinh thần xây dựng, mở mang ... tiến đến hoàn thiện về quan điểm, nhận thức.

Tháng 12-2012 
VŨ TỪ SƠN
Năm sinh: 1949
Quê: Minh Đức, Từ Sơn, Bắc Ninh.
Hiện sống và viết tại Thành phố Bắc Giang.
Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Bắc Giang.
vutuson01@gmail.com

TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:
Một chặng đường , thơ, (2006)
Hương sắc thiên nhiên, thơ (2007)
Gửi gió, thơ (2008)…