Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Xuân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Xuân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Đôi điều về bài viết “Báu vật trong ngôi nhà thờ cổ” của họ Nguyễn Đức làng An Thơ, Hải Lăng, Quảng Trị - Nguyễn Như Xuân

Theo TRƯƠNG QUANG HIỆP (Quảng Trị Online) 

Nhà thờ họ Nuyễn Đức. Ảnh Như Khoa
  
                                                  

      Bài viết nhiều vấn đề. Tôi chỉ nêu những vấn đề theo hiểu biết của mình.
     1, Nhà thờ họ Nguyễn Đức xây dựng vào năm 1832 mà bài viết ghi ngày khánh thành năm 1829.
     2, 15 tấm ván khắc mỗi tấn 7 câu kép (5+3) vị chi 85 câu theo thể văn khác lạ, không thấy lưu truyền phổ thông trên văn đàn. Bài viết cho đó là 15 bài thơ theo thể thất ngôn bát cú Đường luât. Đúng, thể thơ Đường luật 8 câu mỗi câu 7 chữ, còn trên tấm ván 7 câu mỗi câu 8 chữ. Tôi cho rằng ngẫu nhiên mà có sự giống nhau 56 chữ nên tác giả nhầm. Đi vào cấu trúc thể văn chúng chẳng giống nhau tí nào. Đường luật (luật trắc bằng) mỗi bài có chủ đề, có niêm luật, có đối ngẫu, có khai, thừa, chuyển, hợp…Ở “kho báu” cứ mỗi câu (5+3) là một chủ đề độc lập và chỉ một luât (qui định số chữ trong câu ngắt làm hai đoạn) là 5+3.
     3, 85 câu trong kho báu không phải các cụ thông Nho trong làng sáng tác bởi tất cả không một câu nào nói về làng An Thơ. Chắc chắn là được tuyển tập từ những câu danh ngôn xuất sắc thời bấy giờ để giáo dục nhân dân trong cả nước. Câu hỏi đặt ra: tại sao An Thơ lại có?  Theo tôi vùng ta chi ở An thơ mới có điều kiện sở hữu tài sản quí giá này.

1 trang 15 tấm khắc ván những câu 5+3. Ảnh Như Khoa

    Ta thử xem báu vật:
    a, Nguồn tài liệu chỉ có cấp quốc gia (triều đình).
    b, Gia công sản phẩm cực kỳ tinh xảo: mài giũa rất trơn bóng, chữ rất đẹp, nét chạm khắc rất sắc, chất bảo quản quá tốt. Gần 200 năm trên chất liệu gỗ mà ảnh chụp nét chữ rỏ như mới.
     c, Trình độ tuyển chọn danh ngôn không dễ.
     d, Chi phí cho chừng ấy việc phải có số tiền rất lớn.
     v.v…
     Khả năng này chỉ có ở làng An Thơ thời bấy giờ. Thời đó 1820-1850 xuất hiện nhiều nhân tài: Thượng Thư Bộ Hộ  Nguyễn Đức Hoạt, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan, Biện tu Nội các Nguyễn Quang Huy, Tri phủ Nguyễn Đức Tư và nhiều vị nữa.
     Tầm nhìn và khả năng cỡ ấy mới dám nghĩ, dám làm, dám đưa “báu vật” từ chốn phồn hoa (có thể là ở kinh đô Huế) về nông thôn, để làm rạng rỡ nơi quê cha đất tổ.


     Trộm phép xin thưa: các vị tham gia Triều chính nói trên cũng biết rất ít người trong làng đọc và hiểu hết các câu mà họ đưa về thờ. Có hề chi! Dân làng chỉ nhìn tí thôi, tôi tin làng An Thơ tức khắc trở thành LÀNG VĂN HÓA.

      Tuy chưa được thấy hiện vật nhưng nhìn những tấm ảnh chụp, tôi dám khẳng định vùng quê ta không thể chế tác nổi SẢN PHẨM NÀY

***

    Nghe rằng: những câu trong “kho báu” đã được dịch. Thực lòng tôi rất mừng bởi tôi dịch mãi chưa một câu ưng ý.  Xin ví dụ tôi dịch câu đầu tiên:
     Nhân (nhơn) giả nan phùng tư  /  Hữu thường bình
     Tôi dịch:
-Người tốt khó gặp điều lo nghĩ / Có, chuyện thường tình
-Người tốt it gặp điều lo lắng    /  Có (đúng) thế thật.
     Có một nghĩa nữa người nhân (người hiểu đạo làm người) có liên quan đến câu 3 chữ: hữu thường bình. Thường là ngũ thường (nhân lễ nghĩa trí tín). Dịch thế nào đây? Tôi tự an ủi: chữ TQ càng ít chữ càng khó dịch.
     Trong tôi hiểu câu này là : Người nhơn đức trời luôn ban cho họ thanh thản, nhưng không diễn đạt nổi.

    Trong bài viết có một câu (không phải trong 85 câu) tác giả đã dịch, tôi muốn bàn lại là câu: “Tiên năng liễu tận thế gian sự/ Nhiên hậu phương ngôn xuất thế gian” (tác giả tạm dịch: Trước tiên hãy hiểu biết mọi việc trong thế gian/ Rồi sau mới nói đến việc ra khỏi thế gian)
     Dịch ra khỏi thế gian không chuẩn, dễ hiểu nhầm. Theo tôi nên dịch ra với thế gian

     Tôi không thấy chữ kính họa ở bản khắc. Ở thể văn này và ở đây ai thỉnh họa mà có người kính họa, xướng họa chỉ có ở thể Đường luật.
     Xin có lời đề nghị: Bản dịch hoàn chỉnh, kính đề nghị nhà xuất bản Quảng Trị phát hành rộng rải trong cả nước. Tôi lắng tin để tìm cho được một tập và giới thiệu rộng rải với bạn bè.
     Trong bài viết có điều gì thất lẽ xin tha cho.

Nguyễn Thanh Xuân
Đ/c: 487/ 2 Đường Cô Nhuế Từ Liêm Hà nội
Email: nhuxuan29@gmail.com

***
Mời các bạn đọc thêm bài:
BÁU VẬT TRONG NGÔI NHÀ CỔ 
trên báo Người Lao Động Online
và trên trang Blog của Nguyễn Như Khoa có liên kết trong danh sách WEBLOG bên phải của trang VNQT.

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

RỘN RÀNG TẾT - Nguyễn Thanh Xuân họa thơ Lê Đăng mành

Thư pháp trên máy tính của Lê Đăng Mành



                    RỘN RÀNG TẾT!
                    Nguyễn Thanh Xuân
                    Họa bài XUÂN ĐẦY của Lê Đăng Mành


Bố con dảy điệu tởng tờng tơng
Chộ vợ về bui, vợ cũng mờng
Bụng đói tay quơ không chia chác
Ưng chi ăn nấy chẳng cần dường
- Thứ ni xếp đủ lưa đem nếm  
- Hàng nớ y nguyên chớ có quờng
Cả mấy đứa đem lên dọn sặn
Hai ta vô chựa mấy thang chờng.

      NTX



XUÂN ĐẦY!
Lê Đăng Mành mời họa
Quý tặng đồng hương QT miềng

  
Tết đến không tiền bụng dẹ tơng
Muôn hoa khoe sắc dạ bui mờng(*)
Chộ người hạnh phúc nên hoan hỷ
Dặn tớ tang thương chớ hoảng quờng
Ngoài ngọ đèn treo Nga phải thẹn
Trong dà điện lóe Nguyệt e dường
Hững hờ khúm núm  cung tay đón
Ôông mụ(**) co ro xuân khẳm chờng***.

                                 LĐM

Chú thích (Phương ngữ Quảng Trị):
dẹ: nhẹ
bui mờng:   vui mừng
chộ: thấy
ngọ: ngõ
dà: nhà
Ôông mụ:  ông bà
khẳm chờng:  đầy giường  

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

HÒA VIỆN-VĂN QUỸ-HƯNG NHƠN: DUYÊN NỢ BA LÀNG - Nguyễn Thanh Xuân


Tác giả Nguyễn Thanh Xuân (trái) và các cụ làng Hưng Nhơn

Hòa Viện - Văn Quỹ - Hưng Nhơn
(Duyên nợ ba làng)

     Nhân đọc bài của tác giả Lê Ngoc Quốc http// queme quangtrihưngnhon.blospot.com 2012/05 Ô Lâu dòng sông quê hương (đăng ngày 14-12-2012)

     Sông Ô lâu dài gần 70 km từ dải Trường Sơn về phá Tam Giang nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên Huế có sự xen kẻ giữa làng xóm bờ Bắc-bờ Nam:

    Làng Câu Nhi- Quảng Trị ở bờ Bắc có xóm Câu Nhi Hòa ở bờ Nam; làng Hòa Viện Thừa Thiên Huề có bốn xóm thì  hai xóm ở bờ Nam, hai xóm ở bờ Bắc; làng An Thơ Quảng Trị có ngôi miếu và một sổ ruộng ở bờ Nam.

     Hai đoan ở Câu Nhi và An Thơ tôi chưa đề cập đến mà chi trình bày hiểu biết của mình về làng Hòa Viện-Hưng Nhơn-Văn Quỹ (trong bài “Tầm vóc làng Hưng Nhơn” – tập NHỚ LÀNG, tôi đã nêu lên và có lời xin tìm hiểu sau). Nhân đây tôi xin trinh bày suy nghĩ của mình.

   Tôi có may mắn là cả ba làng tôi đều thuộc từng ngõ (Hưng Nhơn làng tôi rõ rồi; làng Văn Quỹ lúc nhỏ học ở đó - đã nói trong bài “Ký ức về chuyện hai làng VQ-HN trong tập “NHỚ LÀNG”); làng Hòa Viện, quê ngoại tôi có bốn xóm rất cách trở nhau (tên từng xóm tôi không nhớ). Để tiện nhận vị trí tôi gọi theo số thứ tự kèm theo đặc điểm: Xóm 1 có nhà thờ Công giáo, đình làng, nơi có nhà ngoại tôi ở; xóm 2 có Ngôi chùa, nhà thờ họ Hồ và họ Trần, bến đò Mụ Tú hằng ngày tôi sang xóm 3 giáp chợ Ưu Điêm để đi học; còn xóm 4, từ cầu Mụ Tú bờ Nam xuống và giáp làng Vĩnh An. Ở đó tôi có Mụ O (xóm O Bộ, chồng O làm Hương Bộ) và chị gái sang lấy chồng.

    Diện tích hai xóm 1-2 ở bờ Bắc tôi ước chừng như một TAM GIÁC ĐỀU, mỗi cạnh ~ 1000m; giới hạn (hiện nay) bởi cạnh 1 là con sông nhỏ Văn Quỹ - Hòa Viện; cạnh 2 là con sông nhỏ chạy dọc làng Hưng nhơn và cạnh 3 là bờ sông Ô Lâu từ bến Ngã Ba làng Hưng Nhơn lên giáp cuối làng Văn Quỹ.

     Tôi cho rằng cạnh 1, cạnh 2 là dòng sông Ô LÂU trước đây còn cạnh 3 là đào mới để nắn dòng. Trên nhận diện như thế,tôi nêu mấy cứ liệu:

    1. Những di tích cũ:

    Cả ba làng đều chung một mô tuyp cổ điển cấu trúc đền đài nhà cửa là hướng ra sông.

    Ta thử xem nhà dân từ sau xóm Đông An –Văn Qũy đến giáp đầu làng Hưng Nhơn (cả nhà thờ Giáo xứ Văn Quỹ) đều hường ra sông.

     Ở Hòa Viện có đình làng miếu (khuôn viên này rất sầm uất, nhiều cây cổ thụ tường bao chiếm một diện tích rộng). Hướng Đình làng, nhà thờ, miếu đều hướng ra sông; nhà thờ Công giáo cũng hướng ra sông và nhà dân cũng vậy.

     Ở Hưng Nhơn: Tất cả nhà thờ, nhà dân đều hướng ra sông

    2. Những dấu hiệu mới:

    Tôi cho rằng cạnh 3 là đào mới nên bờ sông xuất hiện lở bồi.

    Bợc lở: Ở phía bờ Nam đoạn từ đầu xóm 4 bị nước xói lở và ở cuối xóm 2 gần giáp Hưng Nhơn cũng bị lở. Do đất mới đào, bờ của nó chưa được “thuần hóa” với cường độ và lưu lượng dòng chảy khi mà nước dâng cao (tức nước vở bờ).

    Bãi bồi: Đối diện với bên lở, xuất hiện hai bãi bồi (trước mặt họ Hồ và Họ Trần xóm 2 và trước mặt nhà của xóm 4).

    Xin nói thêm là đôi với những con sông hình thành ngàn đời rất it có hiện tượng lở bồi.

Phác thảo sơ đồ nắn dòng Ô Lâu


     Tôi cho đây là công trình vĩ đại, xem ra cả nước ta ít  nơi nào có chuyện nắn dòng sông lớn như Ô Lâu. Lợi ích thật lớn lao, trí tuệ của cha ông ta thật tuyệt vời. Bên cạnh đó cũng để lại những hệ lụy mà con cháu đời sau không hiểu sao lại như vậy. Ví như làng Hòa Viện lại 2 bờ Bắc -Nam và 3 xóm cách trở, một làng diện tích nhỏ mà phải có 3 nghĩa địa; xóm 1 không có bến nước Ô Lâu; xóm Hội-Văn Quỹ mất bên Ô Lâu; làng Hưng Nhơn có sông chảy ngược (chảy từ hướng đông lên hướng tây). Đáng ra Hưng Nhơn cả làng được trực tiếp với dòng sông Ô Lâu, nay chỉ  chưa tròn trăm mét, và chi một bến Ô Lâu (bến Ngã Ba) cả Làng dùng một bến.

    Qua nghiên cứu về sông Ô Lâu , nếu dòng chảy như trên thì có thể xác định làng Hưng Nhơn đến vùng đất này để lập làng trước làng An Thơ.

     Liên tưởng trong Ô Châu Cận Lục của Thượng Thư Dương Văn An công bố năm 1553 có ghi trường hợp Ngài Nguyễn Quận người làng An Thơ theo vua Lê Thánh Tông 1477  đi đánh Chiêm Thành và được phong đến chức Đô Tổng binh sứ đạo Quảng Nam.

     Làng An Thơ đã có thời đó thi Hưng Nhơn không thể đến năm 1558 mới theo Nguyễn Hoàng vào ven sông Ô Lâu lập làng.

    Vấn đề tồn nghi, đề nghị quý học gỉả có tư liệu tin cậy bổ sung, xin cám ơn.

NguyễnThanh Xuân
Email: nhuxuan29@gmail.com