Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Hưng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Ngọc Hưng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

NGUYỄN NGỌC HƯNG - VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI - Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng - PV VNT thực hiện


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng
“Gần ba thập niên rồi hầu như mình nằm một chỗ. Như một cái ao tù. Chẳng còn cách gì khác là cố gắng tự lắng trong, tự khai mở dòng chảy dù nhỏ nhoi để hòa vào sông, biển cuộc đời. Mỗi ngày…”  NNH











NGUYỄN NGỌC HƯNG:
VIẾT TỪ LÒNG BIẾT ƠN CUỘC ĐỜI
 
Phỏng vấn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng, 
phóng viên tạp chí Văn Nghệ Trẻ thực hiện

Hát lên những vui buồn, nhớ thương, trăn trở… 

· Anh vừa cho ra mắt một tập thơ dày dặn với 99 bài có nhan đề Bài ca con dế lửa. Anh có thể chia sẻ đôi điều về tập thơ mới này của mình?
- Ra mắt một tập thơ mới luôn là một khó  khăn với bất kỳ ai. Mình cũng vậy. Và có  lẽ với hoàn cảnh riêng của mình thì càng khó khăn hơn. Nhớ lại tập thơ-người-lớn Những khúc ca trên cỏ cũng đã ra đời cách đây những 5 năm rồi. Mặc dù trong khoảng thời gian đó mình đã in 2 tập thơ thiếu nhi: Bốn mùa cho bé yêu- NXB Kim Đồng, 2010 và Đường em đến lớp- Sách tài trợ của Nhà Nước, NXB Kim Đồng, 2012. Nhưng bằng hữu và bạn đọc đây đó vẫn động viên mình in tập thơ mới. Thêm nữa, một số bạn văn đã viết bài bình, bài cảm nhận về thơ mình mà 13 bài trong số đó mình đã cho in vào phần phụ lục của tập thơ mới như một lời tri ân. Về bản thảo, mình là người không có ý nghĩ “văn mình vợ người” nên luôn lắng nghe, cầu thị. Vì vậy mà mình đã gửi bản thảo đến khá nhiều các nhà văn, bạn thơ để nhờ đọc và chọn giúp. Khâu này mất đến gần 1 năm. Sở dĩ mình cẩn thận như thế vì nghĩ bây giờ sách thơ xuất bản khá nhiều và cũng bị chê không ít, nếu mình sơ sót, nhầm lẫn hoặc chọn lọc không kỹ thì sẽ tạo ra một sản phẩm kém chất lượng- đồng nghĩa với phí phạm công sức, tiền của, thời gian và có lỗi với những người chọn đọc thơ mình.
Sau nhiều nỗ lực, Bài ca con dế lửa được ra đời nhờ công sức của rất nhiều “bà đỡ” đặc biệt là những nhà văn Tạ Duy Anh, Nguyễn Thiên Hương, Sông Thao, Thúy Hằng và những anh chị em làm việc ở NXB Kim Đồng đã giúp mình in ấn, gửi sách đến những địa chỉ cần gửi. Mình cũng vô cùng cám ơn những bạn học thời trung học, đại học và một số những anh chị em bạn khác đã không ngại giúp mình phát hành tập thơ này và những tập thơ trước. Giữa thời buổi văn chương “ế” như chợ chiều, có thể nói nếu không có sự ủng hộ nhiệt tình của các bạn ấy thì thật khó để mình quyết định in thơ. 

· Đọc 99 bài thơ của anh trong tập Bài ca con dế lửa, có thể phân thành nhóm các chủ đề, như Mẹ, Kí ức, Em…. Tuy nhiên, anh đã không sắp xếp chúng theo dạng chủ đề như vậy. Hẳn anh có một ý tưởng nào đó muốn chuyển tải đến độc giả trong cách sắp xếp các bài thơ của mình? 
- Đúng như bạn nhận xét tập thơ này có khá nhiều chủ đề và có thể xếp thành nhóm. Tuy nhiên mình đã không làm thế vì nghĩ những gì mình viết chỉ là tiếng lòng của bản thân, đôi khi là những suy tưởng về cõi người vốn dĩ rộng lớn và vô thường. Bi ca thường ở rất gần hoan ca, đó là không muốn nói trong hoan ca đã có mầm móng của bi ca và ngược lại. “Con dế lửa” bất chợt hát lên một “bài ca” nào đó thì mình cũng vậy. Với mong muốn được người đọc lắng nghe và đồng cảm với mình về những nỗi niềm “ướt khô trần thế” luôn đan xen, chống chéo mà mỗi người phải tiếp nhận và vượt qua.   
Thật ra mình cũng có “sắp xếp”  một chút về bài mở đầu “Tạ ơn đời mỗi sớm mai” và bài cuối “Bài ca mới về  những câu chuyện cũ”…  
      
· “Bài ca con dế lửa” gửi gắm thông điệp gì của tác giả? 
- Con dế lửa là một loại côn trùng nhỏ  bé rất gần gũi thân thuộc với những người sống ở vùng nông thôn. Nhất là với lứa tuổi thơ  và lớp… người già như mình. Nắng nghe dế kêu mưa cũng nghe dế kêu. Đêm nghe dế kêu ngày cũng nghe dế kêu. Tiếng dế kêu lúc réo rắt khi rỉ rả từng ngày từng ngày nhập vào mình lúc nào không biết nữa. Nó như những bài ca không tên, không lời mà vô cùng thiết tha, sâu lắng. Nó hồn nhiên ám ảnh mình như mùi đất ải, phân hoai, mùi cây, hương lúa, ánh trăng,  nắng nôi, bão lũ và rất nhiều những thứ vô danh khác mà chỉ những người từ nhỏ gắn bó với ruộng đồng, nương rẫy, sông suối quê hương mới cảm nhận được. Có lẽ vì mình là “dân gốc rạ” chính tông nên bị/được tiếng dế nhập vào và “định cư” trong tâm hồn luôn. Sống với nhau riết rồi đâm thân thiết như tri âm tri kỷ, đến nỗi nhiều khi mình tự thấy mình cũng là một loài dế- một “ca sĩ đồng quê” rút ruột rút lòng hát lên những vui buồn, nhớ thương, trăn trở… của bản thân và làng mạc quê hương. 

    
Không được  đầu hàng hoàn cảnh dù nghiệt ngã đến đâu 

· Cuộc đời của anh, để được như ngày hôm nay, là một nghị lực sống phi thường. Anh thường tâm niệm điều gì trong những lúc hoang mang, suy sụp nhất?
- “Nghị lực sống phi thường” là một cụm từ mang ý nghĩa quá to lớn, mình không dám nhận đâu. Nhưng quả thật mình đã trải qua khá nhiều “những lúc hoang mang, suy sụp” và đã cố gắng vượt qua. Những lúc sắp “chìm”, khi mẹ còn sống thì là mẹ, khi mẹ mất rồi thì bạn chính là những “chiếc phao cứu sinh” của mình. “Tâm niệm” của mình những lúc khó khăn nhất là nhất định không được đầu hàng hoàn cảnh dù nó nghiệt ngã đến đâu, không được buông xuôi mọi thứ, không được rời bỏ cuộc đời trước những người đã hết lòng thương yêu, không ngại cưu mang, nâng đỡ kiếp đời khốn khổ của mình dù chính họ cũng đã oằn vai trăm gánh… 

· Dù phải chịu đựng một số phận không may mắn, nhưng khi đến với thơ của anh, không hề thấy sự oán thán, chán chường, mệt mỏi. Điều gì đã giúp anh giữ được một tinh thần thơ trong trẻo, an nhiên như vậy?
- Với hoàn cảnh của mình, nếu nói không buồn không xót không đau không chán chường mệt mỏi thì không đúng. Mình đã buồn đã xót đã đau tột cùng, đã từng chán chường, mệt mỏi đến mức chẳng còn quan thiết đến bất cứ điều gì trên đời nữa. May mà mình đã kịp nghĩ và xác định: Mẹ đã hết lòng chăm lo nuôi mình ăn học nên người, bạn bè người thân cũng đã hết lòng giúp đỡ, chăm sóc mình dù cảnh sống của họ đầy khó khăn- nhất là những năm trước đổi mới, mở cửa- cả những người khác nữa, chẳng có quan hệ gì họ cũng tỏ lòng thông cảm, giúp đỡ… Vậy thì số phận- gắn liền với bệnh tật- chỉ do nơi mình mà ra thôi. Mình làm- dù là không cố ý, không biết đã làm gì- mình chịu! Than vãn, trách móc ai? Nếu “tinh thần thơ” mình có chút gì “trong trẻo, an nhiên” như bạn cảm nhận thì có lẽ nó được xuất phát từ xác tín trên cộng hưởng với tình người quá đẹp đẽ, lớn lao mà mình đã, đang và tin rằng sẽ còn được nhận từ cuộc đời! Những gì mình viết đều xuất phát từ lòng biết ơn cuộc đời, cám ơn những tấm lòng nhân hậu đã giang tay cứu vớt, đón nhận mình trong những lúc đau buồn, bế tắc và mở ra cho mình con đường sáng- con đường sống sao cho có ích. Và nói như nhà thơ Tố Hữu là “đời yêu ta ta phải thắng cho đời…”.    

· Anh vượt lên số phận đời mình để dốc sức cho một “số phận chữ”. Hành trình nào khiến anh mệt mỏi hơn?
- “Hành trình” nào cũng mệt mỏi, nhọc nhằn lắm! Nhưng dù sao “số phận đời mình” và “số phận chữ” cũng luôn song hành với nhau. Đó là không muốn nói 2 số phận này luôn ở trong nhau, vịn vào nhau, nương tựa  nhau để cùng tồn tại và gượng đứng lên, nhích lên từng chút một. Người mệt thì chữ đỡ, chữ mệt thì người nâng…   

· Có giới hạn nào trong sáng tác mà anh luôn tự nhắc mình phải vượt qua? 
- Cõi thơ là cõi cao xa dài rộng vô cùng, cuộc sống và trí tuệ con người nói chung, nhất là bản thân mình lại rất hữu hạn. Mình rất hiểu những gì mình đã viết là chưa được gì nhiều, chưa đi đến đâu . Và rất có thể người đã đến cuối đường mà thơ vẫn còn ở vạch xuất phát. Như bạn biết đấy, gần 3 thập niên rồi hầu như mình nằm một chỗ. Như một cái ao tù. Chẳng còn cách gì khác là cố gắng tự lắng trong, tự khai mở dòng chảy dù nhỏ nhoi để hòa vào sông, biển cuộc đời. Mỗi ngày…  

· Nhiều nhà thơ luôn đặt ra yêu cầu cách tân, đổi mới trong các sáng tác của mình. Còn anh thì sao?
- Cách tân, đổi mới là nhu cầu bắt buộc của người cầm bút nói chung. Mình cũng không ngoại lệ. Nhưng cách tân, đổi mới thế nào cho hợp lý và hiệu quả? Mình nghĩ mỗi người có một khả năng khác nhau, cái “tạng” cái “gu” thẩm mỹ khác nhau, tốt nhất là phát huy sở trường của bản thân chứ đừng chạy theo phong trào. Không khéo lại rơi vào tình cảnh “bỏ mồi bắt bóng” như chơi. Dù muốn không muốn văn học nói chung và thơ nói riêng luôn luôn có sự tương tác giữa tác giả- tác phẩm- người đọc. Cách tân, đổi mới luôn cần thiết nhưng không nên cực đoan thái quá. Người đọc không hiểu, không cảm được, không nhận được những hứng thú tinh thần thì tác phẩm dành cho ai?
   Mình là con cháu của những người nông dân thứ thiệt nên chắc là cả đời lẫn thơ phải “sống ghì gốc rạ chết  ôm khói đồng” thôi. 

· Thơ hay – trong suy nghĩ của anh – là gì?
- Bài thơ hay luôn là một chỉnh thể của sự kết hợp hài hòa giữa nội dung và hình thức. Nói cách khác thơ hay phải có nội dung sâu sắc, mới lạ và được diễn đạt bằng một hình thức phù hợp, tương thích, văn minh. Như một người đẹp thực sự phải có cả thanh và sắc.
Mặt khác mình cũng rất thú vị  với tư tưởng của nhà triết học Căng : cái  đẹp không phải ở đôi má hồng thiếu nữ  mà nằm trong đôi mắt kẻ si tình. Có thể  bạn cho rằng đây là quan điểm duy tâm, chủ quan? Mình cũng nghĩ thế, cái đẹp phải có tính khách quan, tức là bản thân nó phải đẹp- cái đẹp ấy được mọi người (hoặc đa số người) công nhận. Nhưng ở một bình diện khác mỗi người là một tiểu vũ trụ, mang trong mình vô số điểm khác biệt so với phần còn lại của thế giới nên để tác phẩm được cả một dân tộc, một thời đại… đồng cảm, yêu thích là cực khó và cực hiếm. May ra chỉ những bậc thiên tài mới làm nổi.
   Với một người viết còn nhiều hạn chế như mình, nếu có bạn đọc nào thích một bài, thậm chí một vài câu nào đó trong cả một tập thơ  thì đã là một hạnh phúc rồi. May mắn có được một ý thơ nào đó đi được vào lòng người và làm tổ ở đó thì… tuyệt vời!
    
· Câu chuyện của chúng ta đã đề cập đến nhiều vấn đề. Liệu còn điều gì đó anh muốn chia sẻ với Văn nghệ Trẻ?
- Cho mình được nói thêm một chút. Mình sống được đến bây giờ, như bây giờ là nhờ lòng thương yêu và nhân hậu của rất nhiều người. Xin được thành kính tri ân tất cả mọi người. Và cũng xin mọi người rộng lòng tha thứ cho những non kém, lỗi lầm Nguyễn Ngọc Hưng đã vô minh phạm phải.
   Cám ơn Văn nghệ Trẻ đã cho mình một cuộc trò chuyện thú vị, nhiều  ý nghĩa này!  
  
· Văn nghệ Trẻ cũng xin được chúc anh luôn vững vàng trước những thử thách khó nhọc của đời sống này, để viết lên những bài thơ có sức sống lâu bền. 

PVVNT thực hiện

Văn nghệ Trẻ số 11 (ra ngày 16, 17 – 3- 2013)

Nguồn: Nguyễn Ngọc Hưng gởi đăng

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

GIẤC MƠ PHÙ SA: GIẤC MƠ VỀ CỘI NGUỒN THÁNH THIỆN - Trần Thị Tích đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng và hình bìa tập thơ Bài Ca Con Dế Lửa (2012)



GIẤC MƠ PHÙ SA

Như sực tỉnh giấc mộng vàng hối hả
Anh lên tàu giáp Tết ngược miền Trung
Chưa hết “mồng” lại ra đi vội vã
Tiễn bước tha phương gió cũng ngại ngùng

Một con mắt hút chân trời trước mặt
Một mắt còn thăm thẳm phía sau lưng
Thương dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa
Sợi khói lam vờn tóc bạc rưng rưng

Quên sao được mùi rạ rơm thơm thảo
Giun dế mùa tha thiết gọi bình yên
Tai ù đặc bốn phương đời bão nổi
Còn vẳng đâu đây một tiếng chim chuyền

Sao đành bỏ những bờ xôi bãi mật
Nơi hồn cây vía cỏ rất ngoan hiền
Đến bắp ngô non cũng tròn căng sữa
Hôi hổi chờ tay ngỏ ý trao duyên

Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành
Vào mê lộ mãi loanh quanh tìm kiếm
Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh

Dùng dằng gió quật anh về hai phía
Lại cuốn vào cơn lốc xoáy miên man
Nghiêng bóng tháng giêng đổ vào tháng chạp
Mơ phù sa sinh nở những mùa màng!

 Nguyễn Ngọc Hưng
(Báo Phụ nữ Việt Namcuối tuần số Tết Tân Mão 2011)


GIẤC MƠ VỀ CỘI NGUỒN THÁNH THIỆN

Hiếm có bài thơ nào diễn tả thấm thía đến thế bi kịch và nỗi lòng của người con buộc phải xa quê dấn mình vào chốn thị thành kiếm sống trong cực nhọc và lạc lõng, nói theo người xưa là “ tha phương cầu thực”. Bài thơ không chỉ nói đến thân phận của một người (“anh”) mà là thân phận của không ít người - những con người đang phải để mình bị “cuốn vào cơn lốc xoáy miên man” của cuộc sống thời công nghiệp hóa, đô thị hóa. Biết bao người đã phải lìa xa quê hương để tìm nguồn sống, vì làm nông nghiệp  (thuần nông) không thể đủ sống trong thời nay! Tâm trạng của họ ra sao? Nguyễn Ngọc Hưng bằng trái tim đầy nhạy cảm đã khắc họa tâm trạng ấy trong “Giấc mơ phù sa”.
Không phải lần đầu tiên người con trai ấy ra đi từ làng quê để mưu sinh nơi thành thị. Nhưng lần nào cũng day dứt, cũng vội vàng, nửa như cố dứt bỏ để tiếp tục kiếm sống nơi xa xứ, nửa đầy nuối tiếc. Tết chưa qua hẳn:  “chưa hết mồng” mà đã phải ra đi. Tất cả chỉ vì cơm áo. Nhưng làm sao dứt hẳn, quên hẳn được nơi anh vừa bỏ lại, nơi sinh thành ra anh, nơi có mẹ, có đồng quê yên ả, có một thời yêu dấu... Cho nên:
“Một con mắt hút chân trời trước mặt
Một mắt còn thăm thẳm phía sau lưng”
Làng quê ấy, nơi mà có lẽ một năm anh chỉ về được một lần vội vã vì xa xôi cách trở với nơi đang sống, đang làm việc (phải đi tàu, vào dịp Tết) có biết bao điều níu kéo anh lại:
Nào là:
“Dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa
Sợi khói lam vờn tóc bạc rưng rưng”
(Hình ảnh không mới, nhưng vẫn đầy xúc động. Mẹ bao giờ cũng là hình ảnh đầu tiên mà mỗi người con nhớ về khi nghĩ đến quê hương, hình ảnh mẹ hóa thân vào quê hương, chồng lên hình ảnh quê hương
Nào là đồng quê với mùi rạ rơm, giun dế, tiếng chim chuyền vẫn hiện về trong  anh  ngay cả những khi khốn khó, sóng gió nhất nơi xa xứ: “ Tai ù đặc bốn phương đời bão nổi”. Nào là những “bờ xôi bãi mật”, “bắp ngô non” ấm áp, thơm ngọt trao tay trong tình quê mộc mạc... Tất cả như một thiên đường trong ký ức.
(Có thể có người nghĩ rằng hình ảnh ở khổ thơ thứ ba không sát thực với miền Trung “đất cày lên sỏi đá”, với hoàn cảnh nhân vật buộc phải tha phương kiếm sống, nhưng đây là logic của thơ. Quê hương trong tâm tưởng vẫn đẹp biết bao, màu mỡ và trù phú biết bao dù ít ỏi những “bờ xôi bãi mật”, bởi ký ức con người luôn nâng niu vẻ đẹp của quê hương).
 Nhưng, bi kịch thứ nhất là ở chỗ, anh phải dứt bỏ tất cả những điều
 đó để mà:
“Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành
Vào mê lộ mãi loanh quanh tìm kiếm
Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh”.
Đây là khổ thơ tâm điểm của bài thơ, đầy tâm trạng, được khái quát và triết lý hóa. Buộc phải vào thành thị kiếm sống, chất “nhà quê” vẫn keo sơn gắn với  con người anh, nó khiến anh trở nên lạc lõng, giữa những giả dối, bon chen, giẫm đạp nhau mà sống trong “mê lộ” nơi phồn hoa xa lạ. Một hình ảnh thật đắt giá:
“Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành”
Không thể hòa nhập được với những điều đó, người con của làng quê vẫn cố tìm kiếm những điều tốt đẹp: một cuộc sống ấm no, chan chứa tình người. Và có lẽ cả thành công, vinh quang nữa. Nhưng:
“Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh”
Những hình ảnh đối lập nhau: “xuân” - “cao tầng, cao tốc”, “nhà quê” - “thị thành”, “vàng” - “nửa đời xanh” càng làm bật lên bi kịch thứ hai của người con xa quê: không thể hòa nhập, không thể vươn lên trong một môi trường xa lạ đến thế.
Và, tất yếu sau những bi kịch ấy là sự giằng xé:
“Dùng dằng gió quật anh về hai phía”
Ở lại thì không thể sống (về mặt vật chất), mà ra đi thì đau đớn (về tinh thần). Rồi vẫn phải ra đi vì cuộc sống. Tưởng như bài thơ sẽ kết thúc một cách ảm đạm. Nhưng không, tác giả đã hạ câu kết bất ngờ làm sáng cả bài thơ:
“Nghiêng bóng tháng giêng đổ vào tháng chạp
Mơ phù sa sinh nở những mùa màng!”
Có thể nói đây là một sáng tạo độc đáo của tác giả, một cách giải quyết có hậu cho những bi kịch trong bài thơ. Đó cũng chính là tên bài thơ: “Giấc mơ phù sa”.  Những người con của làng quê không thể ở lại quê hương vì sinh kế, nhưng vẫn có quyền hy vọng, mơ ước đến những điều tốt đẹp cho tất cả, nhất là khi tháng giêng- đầu năm mới đã đến. Và như vậy, bài thơ đã làm dịu lòng những thân phận tha hương, dịu lòng người đọc. Người ra đi không đơn độc, sau lưng anh vẫn có mẹ hiền, quê hương yêu dấu, đêm về sau những nhọc nhằn, giằng xé anh vẫn được ru êm bằng giấc mơ phù sa ngọt ngào.
Bài thơ xúc động và hay không chỉ vì tứ, vì nội dung. Bằng nghệ thuật thơ tinh tế, những câu thơ 8 chữ khắc khoải, dồn nén như lời kể nghẹn ngào, những lời như tâm sự “quên sao được”, “sao đành bỏ”, những hình ảnh thơ đúng chỗ, đắt giá, những từ ngữ sắc sảo như trong phóng sự: “ngơ ngác”,  “bạc trắng”, “loanh quanh”, “chưa thấy … đã mất”, tác giả đã gieo vào lòng người đọc niềm đồng cảm với thân phận con người trong bài thơ và giấc mơ về cội nguồn thánh thiện, điểm tựa tinh thần cho người con tha phương: “giấc mơ phù sa”.

Trần Thị Tích


ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC:

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com



Thứ Hai, 21 tháng 1, 2013

NHẸ NHƯ ... SƯƠNG! - Hòa Vân đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng



NHẸ NHÀNG ĐẾN Ở RỒI ĐI

Khi sinh khóc để nhân cười
Lúc rời cõi tạm không rơi lệ buồn
Mỉm cười trước phút tay buông
Là xin cuối bể đầu nguồn hãy vui

Bao nhiêu cay đắng ngọt bùi
Rồi tan theo nắm đất vùi xác thân
Mãn đời không để dấu chân
Sống phù vân - thác phù vân. Khác gì?

Nhẹ nhàng đến ở rồi đi
Không tranh chấp chẳng so bì với ai
Đẹp gì hơn giọt sương mai
Hà chi cơn gió thở dài gió ơi!

Nguyễn Ngọc Hưng


NHẸ NHƯ… SƯƠNG!

Qua nhiều bạn văn nghệ ở Quảng Ngãi, tôi được biết Nguyễn Ngọc Hưng (N.N.H.) từ lâu bị bệnh nằm một chỗ, mọi sinh hoạt kể cả cá nhân cũng cần người giúp đỡ. Thế nhưng ở bên trong anh còn y nguyên một “Tâm hồn cao thượng”, một “Trái tim tha thiết”, một “Tấm lòng nhân hậu” với mình, với mọi người, với đời, đây chính là động lực tiềm ẩn để sáng tác... Bởi vậy đến nay N.N.H. đã viết và in trên 10 tập thơ; nhiều báo, tạp chí trong nước luôn chọn đăng bài của anh - đây là nghĩa cử yêu mến và để anh có điều kiện sống tốt hơn nhưng trước tiên và là lý do quyết định đăng bài vì  thơ anh hay!
          Hình như với N.N.H. cuộc đời nầy nhẹ tênh nên trong thơ anh không một chút ưu phiền lẫn vào. (Đây là trường hợp đặc biệt đáng trân trọng, bởi lẽ trong khó khăn thường tình sẽ “chịu không thấu” dẫn đến “bế tắc”...) Bài thơ “Nhẹ nhàng đến ở rồi đi” của N.N.H.  là một bài thơ như thế. Với 3 khổ viết theo thể lục bát, bài thơ đề cập đến nhân sinh quan: cuộc đời - con người - lạc quan và an nhiên.
Câu thơ mở đầu “Khi sinh khóc để nhân cười/ Lúc rời cõi tạm không rơi lệ buồn” đi thẳng vào sự “sinh” – “tử” mà mỗi số phận con người nào cũng qua, hai cảm nhận khác nhau khi sinh và lúc tử đều ở ngoài tầm tay, sinh - vui, tử - buồn ở “cõi tạm” nầy. Cái chính ở đây N.N.H. vì mọi người để đến và đi...để rồi “xin” “vui” ở “cuối bể đầu nguồn”: “Mỉm cười trước phút tay buông/ Là xin cuối bể đầu nguồn hãy vui”, ý thức chẳng “khác gì” “phù vân”cho nên sống và thác hề gì – miễn là sống sao cho đáng sống, thác thế nào đáng thác mới là chuyện cuộc đời lắm cay đắng ngọt bùi nầy. Nếu tâm thế không vững, trong khổ thơ nầy người khác trong trường hợp của N.N.H. sẽ bày tỏ nỗi niềm - bi lụy, đàng nầy khác hẳn anh an nhiên – thiền định…
Câu thơ “Mãn đời không để dấu chân” có một sức gợi cảm sâu sắc, “dấu chân” ở đây là hình-ảnh-còn-lại-của-cuộc-đời-một-con-người, ở N.N.H. mang một biểu cảm hết sức chân thật tận lòng, vì bao năm qua anh làm sao đi đâu mà “để dấu chân” ở lại! Đọc câu thơ “tĩnh” mà “xao động” lòng ta quá đỗi!
Kết thúc bài thơ N.N.H viết: “Nhẹ nhàng đến ở rồi đi/ Không tranh chấp chẳng so bì với ai”toát lên bao yêu thương cuộc đời. Muốn được như thế con người phải không chấp, không tham, sân, si... Và hình tượng “giọt sương mai” mà N.N.H. bắt gặp “đẹp gì hơn”: “Đẹp gì hơn giọt sương mai/ Hà chi cơn gió thở dài gió ơi!”. Câu thơ đầy cảm xúc thẩm mỹ!
Đọc xong bài thơ tôi tin (và chắc nhiều người cũng đồng cảm, tin như vậy) N.N.H. đã tìm thấy “nguồn” – “vui” mai sau còn để lại cho đời những “giọt sương mai”.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong bài hát Như một lời chia tay (1981) đã bộc bạch: “Những hẹn hò từ nay khép lại/ Thân nhẹ nhàng như mây.../ Đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời/ Như một lời chia tay”. Nhạc sĩ tài danh họ Trịnh “Nhẹ nhàng như mây...” và là “Đóa hoa vàng mỏng manh” để lại..., còn N.N.H. thì “nhẹ nhàng” như “giọt sương mai” để lại... 
Có gì nhân văn hơn!
Hòa Văn






ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC:

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com


Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

“NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM” - Võ Thị Như Mai bình thơ Nguyễn Ngọc Hưng


Nói đến Quảng Ngãi, người ta nghĩ ngay đến nghề trồng mía và những sản phẩm từ đường mía nổi tiếng lâu đời, như câu ca dao:

Ai về Quảng Ngãi quê ta
Mía ngon, đường ngọt, trắng ngà dễ ăn
Mạch nha, đường phổi, đường phèn
Kẹo gương thơm ngọt ăn quen lại ghiền.

Không chỉ có đường, đặc sản Quảng Ngãi còn có cây quế:

Ai về Quảng Ngãi
Cho tôi gởi ít tiền
Mua giùm miếng quế lâu niên
Đem về trị bệnh khỏi phiền bà con.

Cây mía và cây quế giống nhau ở chỗ chúng không cho trái nhưng thân của chúng lại chắt lọc và tích tụ những chất tinh khiết quý giá, ngọt và thơm.

Muốn có sản phẩm từ cây mía, cây quế, người Quảng Ngãi phải bỏ công cày cuốc, trồng tỉa, chăm bón trên đất đai cằn cỗi và khô nóng và rồi phải qua chế biến công phu mới tạo ra được sản phẩm -  đó là một quá trình khó nhọc, đổ mồ hôi sôi nước mắt, đòi hỏi cả sự khéo léo của đôi tay và cả trí tuệ nữa.

Đặc điểm sự hình thành của đường trong thân cây mía, tinh dầu trong thân cây quế và đặc điểm của lao động để làm ra sản phẩm từ đường và quế, thực phẩm có nhiều đường và thuốc chửa bệnh có nhiều quế chắc chắn ảnh hưởng đến tính cách của người Quảng Ngãi, ảnh hưởng đến nếp suy nghĩ, cách ứng xử, tình cảm của họ đối với lao động, thiên nhiên và cộng đồng. Và chắc chắn ảnh hưởng đến thơ văn của họ nữa.

Quảng Ngãi không chỉ nổi tiếng về đường và quế mà còn là sinh quán của nhiều nhà thơ lớn của dân tộc như Bích Khê, Tế Hanh, Thanh Thảo, Lâm Anh, Nguyễn Trung Hiếu, Xuân Thới, Khắc Minh, Nguyễn Tấn On ... và trẻ hơn, ở độ tuổi trung niên, có Đinh Tấn Phước, Mai Bá Ấn, Nguyễn Ngọc Hưng ... Ngôn ngữ thơ của họ phản ánh sức sáng tạo tự thân và lao động nghệ thuật công phu để cho ra những vần thơ giàu chất suy tư và thắm đẩm tình người.

Trong số những nhà thơ trung niên đang sáng tác mạnh, Nguyễn Ngọc Hưng là người được biết đến nhiều nhất không chỉ vì tình trạng sức khỏe khiến anh phải nằm một chỗ, số tập thơ in riêng của anh nhiều hơn những nhà thơ khác, số giải thưởng đồ sộ của anh, mà còn vì cuộc sống của anh hoàn toàn chỉ dành cho thơ, sống chỉ để làm thơ. Cuối năm 2012, anh đã cho in tập thơ thứ 11 của mình: Bài Ca Con Dế Lửa. Tập thơ gồm có 99 bài  thơ và 13 bài bình luận, được phát hành đầu năm 2013, đúng vào dịp kỷ niệm 20 năm kể từ ngày anh xuất bản tập thơ đầu tiên: Cầm Sợi Gió Trên Tay, 1993.

VNQT hân hạnh được nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng tặng tập thơ Bài Ca Con Dế Lửa gởi từ Hà Nội.  

Chân thành cám ơn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng và NXB Kim Đồng và xin trích đăng bài bình thơ của Võ Thị Như Mai, một nhà thơ nữ gốc Việt đang định cư tại Úc. Mời các bạn cùng đọc.



Từ trái: Các nhà thơ: Đinh Tấn Phước, Nguyễn Ngọc Hưng, Võ Thị Như Mai


VÕ THỊ NHƯ MAI
“NƠI ẤY BỐN MÙA, NƠI ẤY MỘT TRÁI TIM”

Mùa đông năm nay ở Tây Úc kéo dài quá chừng. Những ngày đông lê thê cũng có thể do cảm nhận của riêng tôi, do cái ho hen sổ mũi ào ào đến rồi chậm chạp bò đi dăm lần bảy lượt của cậu con trai yêu dấu, do tôi quá bận rộn để đi ra ngoài ngắm những thảm hoa dại nở rộ trên khắp tiểu bang. Thời tiết ở đây cũng hơi trái khoáy. Trong khi tôi thường rên rỉ với bạn về cái lạnh thấu xương, về làn môi nức nẻ thì ở Hà Nội, các cô gái duyên dáng đang tung tăng trong váy hoa giữa khí trời nắng trong.
Qua tháng chín, trời ấm dần lên. Tôi mang những chiếc áo dày xù xì cất vào nhà kho và sắp xếp lại những bộ đồ nhẹ nhàng, dễ chịu cho gia đình. Thế nhưng lòng tôi vẫn trĩu nặng một cảm giác buồn lây lất khó mà diễn tả được. Ở bên nhà lũ lụt triền miên hết miền quê này đến vùng đất khác, hết Quảng Bình lụt cục bộ đến Quảng Trị vỡ hai đoạn đê, hết bùn đỏ ở Cao Bằng đến những băn khoăn về dự án bauxite ở Tây Nguyên.
          Ôi chao, cái guồng máy xã hội vẫn vận hành, vẫn quay, vẫn chống chọi với thiên tai, giông gió, vẫn luôn có kẻ vui như hội, và vẫn có người sầu muôn nơi. Tôi thường hay mè nheo với bạn và thích được nghe bạn nói chuyện thời sự. Bạn bảo, tôi nói chuyện cho cô biết tin tức để mà cập nhật thôi, chứ cô buồn rầu thì cũng không giải quyết được gì, nhưng mà tôi nói cho cô hay, xung đột và những muộn phiền trong xã hội là điều không thể nào tránh khỏi, nhưng đất nước vẫn đang mở cửa và đang đi lên, vẫn rực rỡ trong mùa lễ hội, vẫn giữ được phong thái đặc trưng của mỗi vùng mỗi miền và con người vẫn không ngừng thi đua, học hành, phát kiến. Bạn còn cao hứng đọc cho tôi nghe một bài thơ rất dài của tác giả Nguyễn Ngọc Hưng mà bạn yêu mến: “Nơi ấy bốn mùa nơi ấy một trái tim”. Bài thơ bắt đầu thế này:
Nơi ấy có mùa hạ
Ngan ngát sen thơm
Ngực gió phập phù

Nơi ấy có mùa thu
Bảng lảng sương mù
Nồng nàn hương sữa

Nơi ấy có mùa đông
Run run lá bàng thắp lửa
Thấp thoáng bóng ai nép mình bên cửa
Nghe gió mùa thắc thỏm đợi tình nhân

Nơi ấy có mùa xuân
Nô nức đào son, quất vàng, mai trắng
Chảy như sông lặng như hồ sâu lắng
Đi hết ngày chưa hết một chợ hoa

Nơi ấy có ngàn năm suy- thịnh, chiến- hoà
Máu đỏ nên sông
Xương chồng nên núi
Có thuở xênh xang có khi lầm lũi
Vẫn hào hoa thanh lịch “nhất kinh kỳ…”

Hoá ra bạn đang mơ màng về Hà Nội có bốn mùa rõ rệt với “sen thơm”, “hương sữa”, “lá bàng”, “đào son”, “mai trắng”; Hà Nội của những ký ức bi hùng không thể nào phai, Hà Nội với đại lễ ngàn năm diễn ra sôi động và Hà Nội “thanh lịch” gợi mở cảm hứng cho biết bao thi nhân. Câu chuyện của chúng tôi lần nào cũng thế, loay hoay mãi rồi cũng hướng về nơi ấy. Tôi yêu Hà Nội qua tình yêu thiêng liêng của bạn dành cho miền đất này, qua những bài hát làm đắm say lòng người, qua những bài cảm nhận của những người sống trong lòng Hà Nội và những người đi xa. Một đồng nghiệp của tôi đã đến Hà Nội đến ba lần. Cô ấy bảo rằng dự định của hai lần sau là đi Singapore và Hong Kong thôi, nhưng lần nào cũng “ghé lại” Hà Nội và ở lại đó đến bốn, năm ngày. Tôi chưa từng được đến đó chỉ vì Quảng Trị thường giữ chân tôi lâu trong những dịp hiếm hoi về thăm quê.
Bạn đọc bài thơ này mà như hát. Qua điện thoại, tôi có thể hình dung bạn đang nhắm mắt đắm mình vào trong từng con chữ và thế giới cảm xúc về thiên nhiên đất trời, hoà nhịp vào mạch ngầm cảm hứng của bài thơ với những hình ảnh về ấn tượng của một Hà Nội vô cùng thân thương. Tác giả phải là người có một trái tim thổn thức và một tâm hồn lắng đọng mới có thể vẽ lên một bức tranh Hà Nội qua những hình ảnh đặc trưng và thổi vào những hình ảnh này hồn thơ man mác bằng những từ luyến láy gợi cảm như thế: “ngan ngát”, “phập phù”, “bảng lảng”, “nồng nàn”, “run run”, “thấp thoáng”, thắc thỏm”, “nô nức”, “xênh xang”. Nghệ thuật sử dụng từ láy ở đây không những diễn đạt được sắc thái cảnh vật mà còn biểu lộ rõ nét tâm trạng con người.
Tổ tiên tôi từ nơi ấy ra đi
Khai khẩn đất đai, mở mang bờ cõi
Nắng gió tha phương dẫu ít nhiều lai pha giọng nói
Hát về đất nước quê hương chưa lệch chuẩn bao giờ

Một cuốn sách phát hành gần đây có tựa đề “Ngôn ngữ văn hóa Thăng Long – Hà Nội 1000 năm” (NXB Thông Tin và Truyền Thông, Hà Nội, 2010) có nhiều bài nghiên cứu hay về ngôn ngữ trong tiến trình văn hóa dân tộc. Cũng như quy luật tự thân phát triển của ngôn ngữ nói chung, tiếng Hà Nội biết tiếp nhận cái mới và tinh hoa của bốn phương, hội nhập và chắc lọc để tự hoàn thiện ngôn ngữ Việt (theo PGS TS Nguyễn Xuân Hoà). Tác giả của bài thơ mà bạn tôi qúy mến không trực tiếp đề cập đến ngôn ngữ văn hóa Việt nhưng có một phát hiện thật tinh tế làm bạn cứ xuýt xoa mãi, người tha hương “ít nhiều lai pha giọng nói” nhưng khi “hát về đất nước quê hương” thì “chưa lệch chuẩn bao giờ”. Điều này làm tôi nghĩ ngay đến cô ca sĩ khả ái Thùy Hương của trung tâm Asia, sinh ra và lớn lên ở Mỹ, có học vị cao, có giọng hát trong trẻo và phát âm rõ ràng ngoài cái vẻ trẻ trung, duyên dáng. Bạn bất chợt dừng lại và hỏi tôi dồn dập: Nào là con trai tôi có nói và hát được tiếng Việt nhiều chưa? Tôi có định tập cho cháu viết và đọc được tiếng Việt không? Nào là: Con nít học lẹ lắm, đừng có bỏ phí, tiếc lắm, tiếc lắm…
Bài thơ bước sang một chuyển mạch cảm hứng mới kết nối giữa hiện tại và quá khứ, giữa Hà Nội trong cái hoài niệm thân thương và Hà Nội đáng yêu bây giờ với “pháo hoa đèn điện” và dòng người đến viếng lăng Bác, giữa Hà Nội hào khí hồn thiêng sông núi với niềm kính trọng sâu sắc của một tấm lòng người conViệt đối với quê cha đất tổ.

Hồn sông núi bay lên
Chót vót đỉnh Cột Cờ
Tha thiết “tả thanh thiên” với đài Nghiên tháp Bút
Nơi rùa đá đội bia thơm
Nơi ngựa thần lửa phun ngùn ngụt
Hồ trả gươm nhân nghĩa sáng muôn đời

Nơi “Điện Biên Phủ trên không” từng cháy rực một thời
Giờ rạng rỡ những pháo hoa  đèn điện
Mặt trời
Mặt trăng
Tiếp nối liên miên dòng thăm viếng
Hội tụ năm châu
Dung hoà bốn biển
Lăng Bác Hồ hoá bảo ngọc lương tri

Tôi yêu Người không một chút hồ nghi
Ơi Hà Nội- trái tim hồng Tổ quốc
Một lần đến đã ngàn năm thân thuộc
Người trong tôi
Mãi linh hiển dáng rồng!

Lâu lắm rồi tôi mới có dịp nghe một bài thơ hào hùng đầy cảm hứng về Hà Nội nói riêng và đất nước nói chung như thế. Khi còn học phổ thông, tôi rất thích những bài thơ về quê hương đất nước của Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khoa Điềm và Giang Nam qua lời phân tích đầy xúc động của cô giáo, và sau này được nghe lại khi đi dự giờ của đồng nghiệp. Giờ đây được thưởng thức bài thơ của Nguyễn Ngọc Hưng, tôi bỗng nhớ đến da diết lời giảng bài của cô giáo mình, làn điệu man mác âm hưởng sử thi với những yếu tố cổ điển và hiện đại hoà quyện nhau trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm, niềm cảm xúc dâng trào với những hồi tưởng êm ái về mùa thu Hà Nội của Nguyễn Đình Thi hay cái da diết trong tâm khảm khi đọc Giang Nam. Những bài giảng tha thiết ngày ấy tưởng chừng như không có một mối liên quan nào với cuộc sống bộn bề của hiện tại, thế mà trong phút chốc bỗng quay về thật trìu mến thân thương.

Cho tôi xin
Một vốc nước sông Hồng
Một nắm đất gò Đống Đa lịch sử
Một chỗ đứng khiêm nhường nơi vua Lý anh minh từng ngự
Cùng dân tộc nghiêm cẩn, nức lòng nghe đọc “Chiếu dời đô”

Cho tôi xin
Một lần gặp Bác Hồ
Phút thiêng liêng người dõng dạc “Tuyên ngôn Độc lập”
Cho tôi  được cùng 80 triệu trái tim chung nhịp đập
Đơm vạn đoá sen hồng dâng đại lễ NGÀN NĂM…

Xin được thanh tẩy tâm hồn xua sạch bóng tối tăm
Làm một viên gạch Hoàng Thành
Một ánh trăng Văn Miếu
Một chấm vàng hoa rêu năm Cửa Ô
Một tia nắng đỏ đậu vai cầu Thê Húc
Một hòn sỏi vô danh biết quên hết
những giông bão đau thương gió mưa tủi nhục
Lặng lẽ hiến dâng
Lặng lẽ góp mình

Ơi thành- phố- xanh, thành- phố- hòa- bình
Không chỉ ngàn năm, vạn năm Người mãi đẹp như thiên đường thu nhỏ
Mở cửa rồi- bốn phương lộng gió
Bỏ lối mòn xưa tránh con đường cũ
Bay lên cùng vận hội mới
Thăng Long!

Nếu tôi nhắc đến Tố Hữu, một số bạn đọc sẽ không thích lắm, rằng thơ ông không còn hợp thời, rằng thơ ông cực kỳ mang nặng tính tuyên truyền (nhà thơ Ngô Minh), mọi người thuộc thơ ông vì không có chỗ trốn khỏi thơ ấy (nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân). Riêng tôi, tôi thuộc một số bài thơ, câu thơ của Tố Hữu hoàn toàn không phải vì hai lý do trên. Thơ Tố Hữu hay thơ của bất cứ nhà thơ nào trong thời đại nào, tôi thuộc vài câu thơ, vài bài thơ của họ là do tôi yêu thích những vần thơ ấy, chỉ đơn giản thế thôi. Làm thơ và viết văn ở mỗi thời mỗi khác do ảnh hưởng và sức ép của xã hội nhưng không vì thế mà không có những vần thơ đẹp, không vì thế mà không có những hồi tưởng bay cao hay mơ màng hình dung về một thời đã qua. Và trong thời khắc này đây, những vần thơ của Nguyễn Ngọc Hưng đã đưa tôi và bạn hướng về một cái nhìn chung, về một thời đất nước trong đó có Hà Nội sau những tháng năm dài đau thương, chiến tranh khốc liệt, giờ đây đã vươn mình lên yên ấm an lành. Guồng máy xã hội của chúng ta bây giờ vẫn đang nuôi dưỡng những người con đã từng một thời trải qua bom đạn tơi bời, một thời xém bỏ mạng giữa rừng, một thời đặt một nhành hoa lên nhúm mộ của người bạn thân ngã xuống. Tôi cũng đã có lúc trải những suy tư của mình thế này lên trang giấy khi đón nhận một số học sinh mới nhập cư:
em Iraq khuôn mặt tròn bầu bĩnh
em Afganistan vui tính
em Somalia nhỏ nhắn thơ ngây
giữa những nụ cười trong veo ấy
chiến tranh là một từ rất gần

đất nước tôi bây giờ bình yên, rộn rã, tưng bừng
tạm quên vết thương thời chiến
người tìm đến người thánh thiện
những linh hồn bé bỏng lại sinh sôi

Roman Jakobson đã từng nói rằng “Thơ gìn giữ chúng ta chống lại tính máy móc, sự han rỉ hăm dọa tâm hồn”. Xin cảm ơn bạn, cảm ơn nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng đã cho tôi những giây phút được hướng về nguồn cội của mình qua một bài thơ viết về một chủ đề lớn, chủ đề đất nước. Khi tâm sự đến đây, tôi nhìn đồng hồ và bất chợt nhớ ra, đã gần 11 giờ trưa rồi. Tôi vội giải thích cho bạn, rằng ngày hôm nay, 11 tháng 11 được chọn là ngày lễ tưởng niệm (Remembrance Day) trên toàn nước Úc.  Một chút xíu nữa, bạn hãy cùng tôi và tất cả mọi người ở Tây Úc, dừng lại và nhắm mắt lặng yên trong 2 phút để được tưởng niệm về những người đã hi sinh trong các cuộc chiến. Hai phút bắt đầu bạn nhé!

Võ Thị Như Mai.
Tây Úc 11/11/2010




LÝ LỊCH VĂN HỌC
NGUYỄN NGỌC HƯNG
*******
SƠ YẾU LÝ LỊCH:

Sinh ngày: 20.04.1960
Quê quán: Hành Thịnh, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi
Tốt nghiệp ĐHSP Quy Nhơn khóa 2 (1979-1983)
Bị bệnh từ năm 1983
Hiện đang sống và viết ở Thị trấn Chợ Chùa, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi với bạn bè thời phổ thông trung học

TÁC PHẨM:
Đã xuất bản 7 tập thơ thiếu nhi, 6 tập thơ tình và góp mặt trong nhiều tuyển thơ.
                  
GIẢI THƯỞNG:

1. Tặng thưởng Văn học cho thiếu nhi - Hội Nhà Văn Việt Nam, 1994
2. Giải thưởng cuộc thi thơ quốc tế dành cho người tàn tật “Một trái tim- Một thế giới” năm 2000
3. Giải B của Ủy Ban Toàn Quốc Liên Hiệp Các Hội VHNT Việt Nam, năm 2009
4. Huy chương “Vì sự nghiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam”, 2004
…

ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC:

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com