Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhã My. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhã My. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

MỘNG VÀ THỰC - Nhã My_Sương Lam

 
















PHIẾM LUẬN



                                MỘNG VÀ THỰC
                                     
   Giấc nam kha khéo bất bình.
   Bừng con mắt dậy thấy mình tay không
                         (Cung oán ngâm khúc )
Nam Kha ký thuật của Lý Công Tá đời Đường kể truyện Thuần Vu Phần nằm mộng thấy chàng đến nước Hòe An,Thuần được vua Hòe An cho vào bái yết.Thấy Thuần tướng mạo khôi ngô nên gả con gái cho ,phong làm phò mã và đưa ra quận Nam Kha làm quan thái thú, cai trị cả một vùng to lớn.Đương lúc vợ chồng Thuần sống một cuộc sống vương giả cực kỳ sung sướng thì bổng giặc đến vây quận Nam Kha.Thuần đem quân chống cự nhưng thế giặc quá mạnh Thuần thua chạy. Giặc vây thành đánh phá ,công chúa vợ Thuần chết trong đám loạn quân.Thuần Vu Phần đem tàn quân về kinh đô tâu lại vua cha .Nhà vua nghi kỵ Thuần đầu hang giặc nên tước hết phẩm hàm đuổi làm thường dân.Thuần oan ức tủi nhục khóc bi thương.Vừa lúc ấy thì Thuần thấy mình tỉnh dậy nằm dưới góc hòe ,trên đầu một cành cây hòe chỉa về hướng Nam,bên cạnh có một ổ kiến lớn ,bầy kiến leo lên hàng lũ trên cây hòe. Giấc mộng nam kha hay giấc hòe là  điển tích được dùng nhiều trong văn chương cổ hàm ý chỉ rằng sự vinh hoa ,phú quí ở trên đời chẳng khác nào như một giấc mộng. Mộng ,mơ,hay chiêm bao ai cũng biết rằng là chuyện không có thực, không thể nào xảy ra được trong thực tế đời sống của con người Có những giấc mộng vô cùng đẹp đẻ,rất vui,rất hạnh phúc mà khi tỉnh lại đã khiến ta nuối tiếc muốn...tiếp tục ...nằm mộng nữa (nhưng mộng đã không trở lại giống y như cũ) .Cũng có những cơn ác mộng khiến ta sau khi tỉnh lại phải sợ hải, kinh khiếp và mong muốn nó đừng bao giờ xảy ra trong đời thật (hoặc thấy trở lại dù trong mộng). Giấc mộng của Thuần Vu Phần xét theo kiểu ...tiếu lâm là một giấc mộng tiền kiết hậu hung ,có đẹp ,có xấu ,có hân hoan,có tủi nhục là một giấc mộng tổng hợp có thể xảy ra (giống như)trong cuộc sống..’’ lên voi xuống chó” của  một đời người.Nó kết cục có hậu ,khác với những giấc mộng “nửa vời” thường là kết thúc lúc đang đẹp để có nhiều luyến tiếc mà ...kể lại. Quả cũng ... may cho họ Thuần vì khi (chắc bị kiến cắn) tỉnh dậy ...dụi mắt nhìn đời hoảng hồn nhớ lại giấc mơ rồi đưa tay sờ lên cổ mà (mừng rỡ  )kêu rằng ...không làm phò mã cũng được miển là chưa bị chết chém!
Ngày nay không những ở trong mộng mới gặp chuyện “bừng con mắt dậy thấy mình tay không” mà trong cuộc đời thực cũng đã có biết bao hoàn cảnh đau đớn,trái ngang mang đến nhiều khổ đau ,mất mát. Do “thiên tai” như động đất, sóng thần, núi lửa, đất chuồi, bão lụt... hay do “nhân tai” như chiến tranh, bom đạn, khủng bố, trả thù, tai nạn tàu bè,xe cộ, hay do tệ nạn xã hội khác xì ke ma túy, cờ bạc phá sản,bịnh aids... Mộng thì không thể ... làm ra cũng không thể thay đổi được vì nó là ảo là ... mơ màng, nhưng vẫn có thể cầu mong "ngủ đi em mộng bình thường” hoặc cho dù phải đau đớn, khoắc khoải vật vã nhưng vẫn phải muốn từ bỏ để trở về cuộc sống thực tế dù có cay đắng, phũ phàng “làm sao giết được người trong mộng".Vì đúng vậy người ta ... ngủ mơ với mộng nhưng lại phải (bị) sống với cuộc đời thực ,rất thực, rất ... tầm thường đói (phải) ăn, khát uống, phải đi học, phải làm việc (lao động), phải... có vợ có chồng, sinh con đẻ cháu, phải, phải ... nghĩa lã theo qui luật sinh , lão, bịnh, tử của một kiếp người. Ai đó kêu rằng sẽ biến những giấc mơ thành sự thực hoặc sẽ không làm nên ... việc lớn nếu không biết mơ mộng. Cũng được đấy nếu những giấc mơ đó nằm trong tầm tay của con người, nghĩa là nó sẽ thực hiện được cùng với sự cố gắng ,niềm đam mê, khắc phục khó khăn nghịch cảnh,cùng với những hoài bão, lý tưởng, niềm tin, hi vọng, ý chí, định hướng của con người. Được (thành công) như vậy thì quá tốt,cuộc đời còn đẹp huy hoàng hơn là mộng.Còn nếu như mơ làm... mỹ nhân ngư để bơi lội (cùng với cá) vẫy vùng trong biển cả hay mơ ‘’... làm cây thông đứng giữa trời mà reo” thì chắc nếu có kiếp sau mới có thể được. Nhưng mà vẫn cứ mơ để cho đời thêm đẹp, thêm vui, thêm hi vọng. Vì những giấc mộng bao giờ cũng đẹp, mang đến sự lạc quan, yêu đời thì cũng thật là cần thiết đối với con người, để đóng góp thêm những sắc màu cho cuộc sống thực tế vốn được cho là buồn tẻ, chán ngắt này. Những giấc mộng cũng vô cùng cần thiết để văn chương, thi phú, âm nhạc thêm sắc màu phong phú, để xua đi những phút giây phiền muộn của một kiếp người.
Mộng và thực. Đã là con người thì ai cũng phải có.

                                                            NHÃ MY_SƯƠNG LAM

                                 ****************************************

                  TRANG CHU MỘNG HỒ ĐIỆP

Mộng hồ điệp hay Trang Chu mộng hồ điệp là tên người ta đặt cho một đoạn văn trong sách Trang Tử của Trung Quốc. Đoạn văn này rất nổi tiếng nó đã trở thành một điển tích thường dung trong văn chương cổ của TQ và VN.

Nguyên văn(Hán Việt) như sau:

Tích giả Trang Chu mộng vi hồ điệp, hủ hủ nhiên hồ điệp dã.Nga thiên giác tắc cừ cừ nhiên Chu dã.Bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dư ?Hồ điệp chi mộng vi Chu dư ( Chu dữ hồ điệp tắc hữu phân hỉ) Thử chi vi vật hóa.

Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê:

Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn mà không biết mình là Chu nữa rồi bỗng tỉnh dậy thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu. Trang Chu với bướm tất có chỗ khác nhau. Cái đó gọi là vật hóa.

Điển tích này dùng trong văn chương Trung Quốc Bài Cầm Sắc của Lý Thường Ẩn

Trang Chu hữu mộng mê hồ điệp
Thục Đế xuân tâm thác Đỗ Quyên
(Trang Chu một sớm mê hồ điệp
Thục đế giữa lòng xuân gởi hồn chim quyên )

Dùng trong truyện Kiều của Nguyễn Du

Khúc đâu đầm ấm dương hòa
Ấy là Hồ điệp hay là Trang sinh
Khúc đâu êm ái xuân tình
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ quyên

Dùng trong triết học: Giấc mơ thành bướm của Trang Tử gợi ra nhiều câu hỏi trong các lảnh vực triết học tâm thức, triết học ngôn ngữ và nhận thức luận. Không những chỉ là một thành ngữ chỉ gặp trong tiếng Trung Mộng hồ điệp còn lan sang tất cả các ngôn ngữ phương Tây. Nó được dung làm minh họa trong bài luận nổi tiếng A new Refulation the time (Một phủ định mới về thời gian) của Jorge Luis Borges và đã gợi cảm hứng cho truyện ngắn 1918 Polaris của H .P. Lovecraft.

Tài liệu từ Kipedia Foundation, Inc

A note from SL:

Thế gian ù ù cạc cạc (mù mù tạc tạc) trắng đen lẫn lộn, mộng thực khó phân.
Sự thật ít khi tinh khiết và không bao giờ đơn giản (truth is revely pure and never simple)


                                                          NHÃ MY_SƯƠNG LAM

Thứ Năm, 10 tháng 1, 2013

TÍNH CÁCH NHÂN BẢN TRONG VĂN CHƯƠNG - Nhã My


 
NHÃ MY - SƯƠNG LAM
Tên thật: Lâm thị Ngọc Sương
Sinh năm: 1953
Quê quán: Bến Tre (Kiến Hòa)
Làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu và tên thật có bài đăng rải rác trên các 
các tạp chí văn học trước và sau năm 75 như Nghệ Thuật, Gia Đình, Khởi Hành, Thời Tập, Tư Tưởng, Tuổi Trẻ chủ nhật. 
Nghỉ viết một thời gian dài, các bài sau này khi viết lại đăng trong trang blog cá nhân ( suongLam-NHAMY) và đăng thơ trong Thư Quán Bản Thảo, Blog Tiếng Thơ Tình Người, tạp chí Tiếng Quê Hương
Hiện đang sống tại Washington USA.



TÍNH CÁCH NHÂN BẢN TRONG VĂN CHƯƠNG                                                                      -  Phiếm luận                                                                                       
        Từ  "nhân bản" (humanisme) hiểu theo nghĩa thông thường và dễ hiểu là những câu chuyện, đề tài có liên quan tới con người, lấy con người nói chung làm gốc. Con người tức bản ngã cá nhân của chính ta (cái ta, tôi) và tha nhân (người khác) tức những người ở xung quanh ta, có mối liên hệ (bà con giòng họ) với ta hay chỉ là người xa lạ (nói chung là nhân loại). Đã là con người thì ai cũng phải có thể xác và tâm hồn. Con người ngoài bản năng sinh tồn (vật chất ăn, uống, ngủ , nghỉ) còn có khả năng suy nghĩ, cảm xúc thuộc về  tâm linh (chính  đây mới là điều đặc biệt quan trọng của con người khác với thú vật ) .
        Văn chương là sản phẩm của con người, do đó hầu hết các đề tài, tác phẩm văn học đều ưu tiên viết về con người. Các nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, biên kịch, viết nhạc ngoài tài sử dụng chữ nghĩa lưu loát tuyệt vời còn có một tâm hồn nhạy cảm, cảm mảnh liệt và dồi dào. Từ những hình tượng tầm thường, những đồ vật vô tri vô giác, hay cảnh sắc ở xung quanh, đã được nhân cách hóa tạo nên những áng văn hay, bài thơ đẹp, khúc nhạc vui (hoặc buồn) để cho chúng ta thưởng thức. Nghe tiếng ve kêu ‘"nức nở buồn hơn tiếng lòng’", "hôm nay buồn mặt trời đi ngủ sớm’",  "cái cò mà đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao, ông ơi ông vớt tôi nao, tôi có lòng nào ông hãy xáo măng, có xáo thì xáo nước trong , đừng xáo nước đục đau lòng cò con"
        Với văn tài của người viết, khi thể hiện về những đề tài con người thì xúc cảm và nhận xét càng tinh tế, ý nhị hơn. Cái "ta"  không còn là ta tầm thường ( ăn diện, tức tối, ganh tỵ, thích chửi bới, hiềm khích,…) mà trở nên cái ta dễ thương, khiêm tốn , biết lắng nghe, biết hòa hợp vào thiên nhiên, cái ta dạt dào tình cảm "một mảnh tình riêng ta với ta",  "người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"… Từ những "bức tranh sống động" tả cảnh cô bé  “Đi chùa Hương” ( Nguyễn Nhược Pháp) đến cảnh chợ tết (Bàng Bá Lân) hay cảnh đoàn tàu (Tế Hanh) với những tiếng còi  "Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ. Lòng của người đi réo kẻ về"  đã khiến cho người đọc đắm chìm vào trong những cảm xúc buồn, vui, rạo rực, hay xót xa thương cảm… Khi đọc những tác phẩm văn xuôi khác, mặc dù có là tiểu thuyết (hư cấu) hay tùy bút, ngay cả ký sự thì ít nhiều tâm sự của tác giả (là tha nhân, người lạ hoàn toàn không quen biết với ta) cũng như dễ dàng hòa hợp, được người khác (người viết cũng không biết người đọc là những ai) đón nhận một cách ưu ái (hay khó chịu). Từ những hoàn cảnh giàu sang, phú quí, cao sang tốt đẹp cho đến  khổ sở, bần hèn, nghèo đói dốt nát, tất cả như đều hiện ra trong văn chương, truyện ký. Những con người thật sự với đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố với những sinh hoạt tập quán như một bức tranh xã hội hỗn độn đầy sức sống lấn lượt đi vào văn chương bằng những nét chấm phá vô cùng linh hoạt, rõ ràng. Ta đã gặp một nàng Kiều mà cuộc đời truân chuyên, cay đắng hay một nàng kỷ nữ (ở bến Tầm Dương của Bạch cư Dị) buồn khi nhan sắc về chiều hoặc cũng là kỷ nữ, một người mà (cái nghề) với chế độ phong kiến thời ấy bị xã hội khinh rẻ nhưng cũng là một con người được tác giả vẽ nên với chất người được bình đẳng như muôn ngàn con người khác, cũng có những tình cảm, phút giây “khách không ở lòng em cô độc quá”(Xuân Diệu). Rồi gặp được Chí Phèo, Thị Nở hay những kẻ nghèo hèn khác (trong tác phẩm Sống mòn của Nam Cao), còn nhiều nhiều nữa… Khi mà những mảnh đời rách nát, khổ đau, những con người được coi là ở tận đáy của xã hội đã được các tác giả dựng nên thì trong ý nghĩa tích cực, tự do và bình đẳng văn chương đã nói lên được tính cách nhân bản, nói lên quyền (được sống không có sự phân biệt đối xử) của con người. Rồi khi ta đọc Quốc văn giáo khoa thư, Cổ học tinh hoa, Tâm hồn cao thượng, Ngụ ngôn của La Fontaine thì không phải là biết về con người và  học được những kinh nghiệm làm người hay sao. Một tác giả nổi tiếng khác người Trung Quốc là Lỗ Tấn tuy không khẩu hiệu sách động, không "dao to búa lớn"  nhưng chỉ với những tác phẩm bình thường, những chuyện kể có khi nhỏ nhặt mà đã có một ảnh hưởng rất lớn, làm thay đổi tư duy của một thế hệ, như vậy không phải là tác dụng nhân bản của văn chương sao. Rồi Đoạn tuyệt  (Nhất Linh) nói về cuộc xung đột giữa cũ và mới hay Tố Tâm (Hoàng ngọc Phách), một tiểu thuyết tình cảm lảng mạn đã khiến cho có người thương cảm nhảy hồ tự tử , sau này những tác phẩm tiểu thuyết xã hội của Quỳnh Dao (tác giả Đài Loan, dịch giả Liêu quốc Nhỉ) tuy vẫn biết là hư cấu nhưng cũng đã từng làm đắm say cả một thời, và còn nữa, nhiều nhiều nữa, thế giới của văn chương tiểu thuyết thật vô cùng phong phú và hấp dẫn.
        Cũng vì sự hấp dẫn của thế giới văn chương, truyện ký và ngày nay là phim ảnh đã ảnh hưởng rất lớn, sâu đậm đến sinh hoạt tình cảm của con người nên cũng có người phản đối cho là dạy hư giới trẻ con mới lớn. Nhưng nhìn chung, ngoài những ‘’dâm thư’’, truyện kinh dị có hại tới thần kinh, những loại văn tục tĩu vô văn hóa, những chuyện xàm xí bậy bạ  có ảnh hưởng không tốt cho trẻ con mới lớn thì văn chương, thi phú, trong tác dụng tích cực vẫn là một món ăn tinh thần bổ ích và cần thiết cho con người.
        Mà đã là “món ăn” thì thiết nghĩ cũng có nhiều “khẩu vị” khác nhau. Cùng một câu chuyện, một vấn đề có khi được hiểu (mổ xẻ) theo nhiều cách khác nhau. ( Bằng chứng là chỉ có một nàng Kiều mà có biết bao ý kiến, phê bình, tốn hao không biết bao thời gian và bút mực … nói cho vui có khi … tác giả cũng chẳng biết đâu mà rờ!). Có thể tôi thích đọc ký sự du lịch còn bạn thì mê tiểu thuyết người khác lại "kết" chuyện kiếm hiệp …vv… Do đó các cuộc tranh luận về văn chương, triết học thường không có điểm dừng và mọi kết luận cũng ít khi đúng một cách tuyệt đối.
        Cả một khu rừng văn chương hoa lệ đầy sắc màu quyến rũ thì xin mời mọi người cứ tự do bước vào và tự do thưởng thức.


                                               NHÃ MY - SƯƠNG LAM

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2013

TẢN MẠN VỚI "NGHÊU NGAO VUI THÚ YÊN HÀ" - Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


                          
  

TẢN MẠN VỚI "NGHÊU NGAO VUI THÚ YÊN HÀ"
                            - Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba




1. Có lẽ học sinh và sinh viên bây giờ rất lạ lẫm với từ  “thú yên hà” hoặc “cuộc yên hà”.  Ngày trước còn ngồi mài đủng quần trên ghế nhà trường, chúng tôi được nghe đến cụm từ này khá nhiều. Tất cả các ai từng học thơ của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ hẳn biết cụ rất thích thú yên hà. Mấy ai có thể quên những câu thơ rất ấn tượng của ông như: 


        - Ngoài vòng cương toả chân cao thấp
        Trong thú yên hà cuộc tỉnh say. (Thú tiêu dao)
        - Mặc xa mã thị thành không dám biết
        Thú yên hà trời đất để riêng ta. (Thoát vòng danh lợi)


        - Thơ một túi phẩm đề câu nguyệt lộ
        Rượu ba chung tiêu sái cuộc yên hà. (Cầm, kỳ, thi, tửu)



Trong phạm vi văn bản của bài thơ, ít nhiều đã giúp chúng tôi hiểu được nghĩa chính xác của cụm từ này. Huống hồ thầy giáo lại càng giảng rõ nghĩa hai từ xuất xử trong nhân sinh quan của vị tướng công xuất chúng và cũng là một nhà thơ tài hoa này. Thú yên hà trong trí tưởng non nớt của chúng tôi ngày ấy là cả một nếp sống tao nhã, thanh bần, một khung trời thơ mộng, phóng khoáng và tự do.


2. Tình cờ tôi tra Tự điển Việt Anh của Bùi Phụng (NXB Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp, 1992. Tái bản lần thứ ba) tôi gặp được ở cụm từ yên hà được dịch như sau: 1. mist and fog; seclusion, retirement. 2. opium smoking, thú yên hà: the pleasure of opium smoking” (tr.1136) tức là 1. mù và sương, ẩn dật, xa lánh. 2. hút thuốc phiện, thú yên hà là cái lạc thú của việc hút thuốc phiện. Quả thật tôi hết sức ngỡ ngàng. Ở định nghĩa 1, “yên hà” đã được dịch như thế là tạm ổn rồi. Sao lại nảy ra cái nghĩa thứ hai kì cục như vậy? Hay là vì có thêm từ “thú” đứng trước mà làm nó biến nghĩa?


Tra tiếp một Tự điển Việt Anh khác là cuốn Từ điển Việt Anh của Viện Ngôn Ngữ Học, NXB TP Hồ Chí Minh, 2001, tôi cũng gặp lời dịch y hệt như ở cuốn trước (tr. 854 ).


Vậy tạm kết luận theo hai cuốn tự điển trên thì thú yên hà là cái thú hút thuốc phiện như bốn chữ trên bức hoành “PHI YẾN THU LÂM”chăng? Đây là cách chơi chữ của các cụ nho xưa. Bốn từ trên không có nghĩa là chim én bay trên rừng thu đâu mà chỉ là “Phiện thú lắm” nếu chúng ta đọc nhanh. Bức hoành này được tặng cho một tay trọc phú sính văn chương chữ nghĩa mà lại rấtghiền thuốc phiện.


3. Tôi nhớ lại một giai thoại văn chương về cụ Nguyễn Du. Trong một lần đi sứ tại Trung Quốc, cụ có ghé lại thăm một lò làm đồ sứ ở Cảnh Đức trấn nơi đang làm một số chén dĩa ấm trà và các dụng cụ khác cho vua Nguyễn. Biết cụ là danh nho, các nghệ nhân nơi đây đã nhờ cụ viết mẫu cho hai câu thơ Nôm để sao lại trên các dĩa sứ. Hai câu thơ đó là “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người thân”.  Các dĩa sứ này vẫn còn lưu truyền đến ngày nay. Tôi nhớ không lầm thì có một tạp chí nào đó có chụp lại hình cái dĩa với các câu thơ trên. Hóa ra, nếu các tự điển trên không sai thì ngoài cụ Nguyễn Công Trứ còn có cụ Nguyễn Du là một tay nghiện nặng thuốc phiện và cả triều đình nhà Nguyễn cũng rất khoái cái thú độc hại này. Hay là cụm từ “thú yên hà” có đến hai cách hiểu mà các tự điển trên đã sơ sót chỉ nói đến một nghĩa?


4. Tiếng Anh thì vậy, còn tự điển tiếng Việt thì sao đây? Tôi tiếp tục tìm kiếm thì may thay trong cuốn Từ điển Tiếng Việt cũng của Viện Ngôn Ngữ Học, NXB Đà Nẳng, 2003 tôi gặp được dòng sau:


yên hà d. (cũ; vch) Cảnh thiên nhiên nơi rừng núi. Vui thú yên hà.


Nói tóm lại, đến ngang đây thì bản thân tôi cũng vẫn còn lúng túng vì biết tin ai. Từ điển rõ ràng là phải chính xác thế nhưng cùng chung một Viện Ngôn Ngữ Học mà hai cuốn từ điển lại cho hai nghĩa khác nhau đến thế. Nhưng nếu theo cách giải thích của cuốn Từ điển Tiếng Việt. tôi cũng cảm thấy chưa thỏa mãn. Cảnh thiên nhiên là cảnh gì đây, cây, núi, sông, gò, mây,... hay nước? Thú yên hà phải chăng chỉ có nơi rừng núi mà thôi? Nơi thôn dã đồng bằng, xa cách thị tứ nhộn nhịp liệu các nhà nho ngày xưa có hưởng thú yên hà được chăng?


5.1 Theo Tự điển Trung Việt của NXB Khoa Học Xã Hội, 1993 (tr.1374) và Hán Việt Tự điển của Thiều Chửu, NXB TP. HCM (tr.370) từ yên (煙/ 火因) được viết ghép bởi bộ hỏa (火) và từ nhân (因) có ba nghĩa chính như sau: 1.khói do đốt cháy mà ra. 2. hơi nước bốc lên trên mặt sông, 3. thuốc lá. Từ YÊN ta thường gặp trong các từ ghép Hán Việt như yên vụ, yên ba, yên hà, yên hoa, yên trần,....


Một số câu thơ Đường có các cụm từ trên. Với nghĩa 1 là khói từ lửa, ta liên tưởng tới hai câu đối trong phim Kỷ Hiểu Lam, một học sĩ triều Thanh:


Thử mộc thành sài, sơn sơn xuất (Gỗ này làm củi, núi nào cũng có.)
Nhân hỏa vi yên, tịch tịch đa (Có lửa nên có khói, chiều chiều càng nhiều.)


Cái hay của hai câu đối này là cách chiết tự trong chữ Hán.Chữ thử (此) ghép với chữ mộc (木) thành chữ sài (柴); hai chữ sơn (山) chồng lên nhau thành chữ xuất (出); ở vế sau chữ nhân ghép với chữ hỏa thành chữ yên như đã nói ở trên và hai chữ tịch (夕) chồng lên nhau thành chữ đa (多).


Với nghĩa 2 là hơi nước là đà trên mặt sông, Thôi Hiệu trong bài thơ Hoàng hạc lâu đã viết: Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Cụ Tản Đà đã dịch một cách tài tình là ‘Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai’.


Còn với nghĩa 3 là thuốc lá, Hồ Chủ tịch đã viết “Tam niên bất ngật tửu xuy yên” tạm dịch là “Đã ba năm nay Bác không uống rượu và hút thuốc lá”.


5.2 Cũng theo Tự điển Trung Việt tr.1284 và tự diển Thiều Chửu trang 742 thì từ hà (霞) được ghép bởi bộ vũ (雨) và từ giả (假)* có một nghĩa là ráng. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ Học, ráng là hiện tượng ánh sáng mặt trời lúc mọc hay lặn phản chiếu lên các đám mây, làm cho cả một khoảng bầu trời sáng rực rỡ, nhuộm màu vàng đỏ hay hồng sẫm (tr.820).


Ta có thể gặp từ “hà” này trong câu thơ cổ nổi tiếng của Vương Bột, “Lạc hà dữ cô vụ tề phi, Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc”. Tạm dịch là ráng chiều cùng bay theo với những con cò đơn lẻ, Làn nước mùa thu cùng một sắc màu với khoảng trời mênh mông.


6. Nói tóm lại, yên hà là cảnh khói nước trên mặt sông cùng với màu ráng trời rực rỡ. Đây là những cảnh sắc thiên nhiên tuyệt mỹ mà những người mãi lăn lộn trong cuộc sống quan trường, kinh doanh nơi phố thị đô hội không hề quan tâm tới. Chỉ có những người đã ra khỏi vòng hệ lụy của cuộc nhân sinh đáng chán kia, xem chốn phồn hoa công danh là tù ngục, bỏ về vui cuộc sống thanh bần lạc đao với thú ruộng vườn mới cảm nhận được cái đẹp đơn sơ, tự nhiên của thiên nhiên quanh ta (không nhất thiết là nơi rừng núi vì chẳng có từ nào ám chỉ cái nghĩa rừng núi ở đây cả) và say sưa với nó. Thú yên hà có thể hiểu là thú ẩn dật, vui sống đời thanh bần lạc đạo, xa lánh lễ nghi hình thức, xiêm áo rềnh ràng, một lạc thú của những người mang tư tưởng Lão Trang khi thấy rằng “Xử thế nhược đại mộng, Hồ vi lao kì sinh “(Lí Bạch) và tìm về sự ngưỡng mộ thiên nhiên giản dị, tự nhiên không có bàn tay con người can thiệp như một cách chia sẻ tâm tình.


Mãi về sau tôi mới tìm được một cách lí giải cho việc dịch cụm từ trên của hai cuốn tự điển trên. Họa là các tác giả đã nhầm từ “thú yên hà” với “thú yên hoa”chăng? Từ “yên hoa” chỉ những nơi hút thuốc phiện và cả chứa gái. Cả hai thói hư luôn đi kèm với nhau. Chính trong từ này “yên” mới có nghĩa là thuốc phiện tức nha phiến yên còn “hoa” là chỉ các cô kĩ nữ.


Tuy nhiên “yên hoa” còn có nghĩa thứ hai là hoa khói tức là khói nước chờn vờn trên mặt sông nhìn mơ hồ như những đóa hoa. Hình ảnh này đã được miêu tả trong câu thơ “Cố nhân tây từ Hoàng hạc lâu, Yên hoa tam nguyệt há Dương châu (Lí Bạch). Trần trọng San đã dịch là Bạn cũ dời chân Hoàng hạc lâu, Tháng ba hoa khói xuống Dương châu (Thơ Đường, NXB Thanh hóa, 1997, trang 199.)


Xem ra nghĩa của hai cụm từ thú yên hà và thú yên hoa xa nhau. Mong rằng các tác giả tự điển nói trên để tâm xem lại.


* Chữ giả đã lược bỏ bộ nhân đứng.

                                                  NGUYỄN PHÚC VĨNH BA


SƯƠNG LAM GÓP Ý KIẾN VỚI ANH VĨNH BA

Bài viết của anh Vĩnh Ba giải thích hai từ Hán Việt "yên, hà" thật rõ ràng


 Trước hết SL tôi xin cảm ơn  anh VB đã  viết bài này vì qua đó giúp được cho các bạn trẻ hoặc những người không có vốn từ Hán Việt được hiểu biết rành rẽ hơn
SL tôi không  học nghiên cứu chuyên ngành Hán Nôm, thời nhỏ học SP Việt Hán (ĐH CT) nhưng chỉ học hệ GSTH đệ nhứt cấp (vì nhà nghèo phải tranh thủ ra trường sớm để làm việc kiếm tiền) Sau này lại theo chuyên ngành tiếng Trung phổ thông (bạch thoại)chương trình mới chữ giản thể và phiên âm quốc tế theo giáo trình của ĐH Bắc Kinh nên so về kiến thức chữ Hán cổ thì còn kém Nói thật vì quen sử dụng âm tiếng Phổ thông nên có nhiều chữ không đọc ra âm Hán Việt và … không biết tra từ điển theo số nét và bộ thủ chỉ biết tra theo âm tiếng Trung mà thôi..! Cũng phải nói thêm là chữ Trung Quốc (chữ Nho và  tiếng TQ) rất khó học nó đòi hỏi người học phải có một sự kiên nhẫn tuyệt đối và trí nhớ để thuộc lòng toàn bộ chữ … ngoằn nghoèo gồm khoảng hơn 14 ngàn ký tự chưa kể đồng âm khác âm hay nếu viết khác bộ thủ thì trở thành một từ khác nghĩa cũng như phải phân biệt được khi nghe… người Tàu nói , phải nghe theo ngữ cảnh vì trong tiếng Trung có rất nhiều từ đồng âm (còn nhớ mỗi khi qua một kỳ thi tôi phải nghe máy … nói suốt ngày đêm đến nỗi đậu rồi cả hai lỗ tai gần như bị điếc bài vỡ thì  “ gối đầu nằm” khi giựt mình thức dậy phải học thuộc lòng tiếp để khi vào lớp thầy yêu cầu kể một đoạn ngắn nào đó trong một truyện ngắn của Tàu  mà ít nhứt cũng …dài có tới hơn 30 trang!! Đi thi thì “viết một câu truyện ngắn’’ dĩ nhiên phải viết  đúng chữ  !!!  Các bạn nào lấy xong bằng cử nhân tiếng Trung chắc cũng phải vất vả như tôi!!)
Nói dông dài một chút để hiểu rằng giải thích đúng nghĩa của các từ Hán Việt thì không phải là nói càng nói đại mà phải có vốn học và  hiểu biết.
Trở lại đề tài bài viết của anh Vĩnh Ba , SL tôi xin góp thêm vài ý kiến nhỏ như sau
1-*- Yên từ Hán Việt  
煙   (bộ hỏa + chữ nhân) là danh từ có nghĩa là khói. Khói do vật chất đốt cháy mà ra như xuy yên (thổi khói) Đây là  “ khói đồng quê, khói bếp, khói lam chiều, khói rơm…’’ thường gặp chữ yên trong thơ Vương Duy

                  Đại mạc cô yên trực
                   Trường hà lạc nhật viên

                  (Sa mạc sợi khói thẳng đơn chiếc.

                   Sông dài mặt nước tròn lặn)

 Chữ hà   河  :  (bộ thủy + khả)  ở đây nghĩa là con sông, khác với chữ hà   霞  :  ( bộ vũ +  giả)  là ráng chiều)

**Yên 
霧 ( bộ vũ)  có nghĩa là hơi nước, sương móc chất hơi từ sông, núi bốc lên như vân yên  雲 煙  (mây mờ),  yên vụ  煙 霧  (mù mịt)
Chữ yên
  
煙  trong thơ Thôi Hiệu (Hoàng Hạc Lâu)

              Nhật mộ hương quan hà xứ thị
              Yên ba giang thượng sử nhân sầu

 
Mà các bậc tiền bối đã dịch là khói sóng. Khói sóng là từ ngữ (tượng hình) sử dụng trong thơ theo nghĩa khói do nước bốc hơi mà ra.  Ai cũng biết khi nước đun sôi ta sẽ thấy những làn khói tỏa ra từ cái vòi của ấm nước hay từ nồi canh ,nồi nước lèo bốc khói Nhưng thấy khói từ mặt sông bốc lên ít khi được nhìn tận mắt vì ở vùng nhiệt đới khí hậu nóng nước bốc hơi thẳng lên cao thành mây Chỉ ở vùng khí hậu lạnh khi hơi nước bốc lên từ mặt nước sông gặp lạnh chỉ lơ lửng lưng chừng tạo thành đám khói mờ. Tôi sống ở vùng Bắc Mỹ rất thường gặp khói (nước) sông. Ở WA có một con sông lớn  xe chạy trên một cây cầu dài và rất cao mỗi buổi sáng  tôi vẫn thấy hơi khói bốc lên từ mặt sông dày đặc cả vùng sông rộng có khi nằm dưới chân cầu có khi bay lơ lửng lên giữa cầu Có hôm trời quang đản không khí ở các vùng khác và ngoài đường lộ hoàn toàn không có sương mù nhưng khi qua dòng sông này vẫn thấy khói (mà lúc đó lầm tưởng là sa mù). Lần khác khi ở Alaska có hôm buổi chiều nhìn phía khu rừng cây mù mịt khói ở dưới thấp trắng mờ lầm tưởng là khói …cháy rừng  (hiiii khói cháy rừng thì nóng và màu xám đen còn khói này xuất hiện vào mùa lạnh) sau đó mới hiểu ra là khói bốc lên từ dòng sông lớn phía sau khu rừng Khói núi cũng thường thấy khi nó bao phủ lưng chừng núi như những đám sa mù sà xuống thấp


***Yên   煙  chỉ riêng cho thuốc phiện như yên thổ   煙土    (nha phiến chưa luyện), đại yên  大煙   (khói thuốc phiện), lao yên  牢 煙 (thuốc lào),  hấp yên  吸 煙  (hút thuốc)
2-* Hà từ Hán Việt là sông ( 
河    bộ thủy + khả) như sơn hà…
**Hà là ráng ( 
霞  bộ vũ + chữ giả) trong khoảng trời khi có khí mù lại có bóng mặt trời xuyên qua lúc mới mọc hay sắp lặn trên nền trời sẽ có màu sắc sặc sỡ (bình minh, hoàng hôn), chữ hà trong Đằng Vương Các Tự, thơ Vương Bột

                Lạc hà dữ cô vụ tề phi
                Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc


            ( Ráng chiều với cánh vịt trời đơn chiếc cùng bay
             Nước thu trộn lẫn với bầu trời dài một sắc)


3-*Nghĩa của từ ghép yên hà, thú yên hà như trong thơ Nguyễn Công Trứ mà anh Vĩnh Ba dẫn là hai từ yên  (khói ở đồng quê hay khói trên sông) và hà là ráng trời
Là thú vui của người biết thưởng thức hòa mình trong cảnh đẹp thiên nhiên tự do rộng lớn ưu đãi  thú vui điền dã, giản đơn, nhàn nhã  không đua đòi danh lợi vật chất cao sang (ngắm bầu trời ,mây nước…). Nếu nói cho cùng theo nghĩa ghép chữ hiểu hà là sông đi nữa thì cũng là khói …  trên sông chứ không là thú vui (thưởng thức) theo … khói thuốc phiện được (vì chỉ giải nghĩa được từ yên còn hà thì để đâu?)
Thú vui trong khói thuốc (thuốc lá hay bàn đèn) là thú vui vật chất trong một không gian hạn hẹp và có điều kiện  làm sao so sánh thú vui tao nhã phóng khoáng giữa trời đất bao la ,hòa hợp với thiên nhiên kỳ thú, với cảnh sắc tuyệt mỹ của ráng trời hay mơ màng trong khói sóng … Còn nếu nói nhầm thú “ yên hoa ” ( theo nghĩa thú vui ở chốn Bình  Khang ) với '' yên hà " thì hai từ hoa và hà khác xa (trong cách viết và phát âm của Hán Việt  hay chữ Việt)

Hi vọng là sẽ không gặp trường hợp như vị đắng của “ Canh gà Thọ Xương” mà  một giáo viên trẻ đã … nuốt phải  !!!
                                                   SƯƠNG LAM (NHÃ MY)

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

THƠ BÌNH THANH CỦA NHÃ MY

   


                     CHIA LY
       Mây chiều bay muôn phương
       Mưa buồn giăng rưng rưng
       Người xa lòng mang mang
       Sầu dâng theo thời gian

       Mây về đâu bay đi
       Em còn đâu xuân thì
       Chia ly ta còn chi
       Là buồn đau phân kỳ

       Thời gian ôi trôi đi
       Hoài hoài đau trong tim
       Buồn thương ôi đâu tìm
       Giờ đây chia uyên ương

       Ngàn năm chờ yêu thương
       Nhìn theo người xa phương
       Chia ly sầu đoạn trường
       Tình theo ai vương vương…

       Lời theo ai yêu thương
       Mờ xa  trôi về đâu…

                     TƯƠNG TƯ
       người đi chưa xa mà  quên nhau
       còn tôi nơi đây nhìn hoàng hôn
       chiều đông âm u buồn mênh mông
       trời buông sương rơi ngày tàn trôi
       lòng theo xa xôi nhiều ưu sầu

       uyên ương chia xa lời buồn ca
       dư âm phôi pha người quên ta
       còn đâu yêu thương thời gian qua
       tương tư riêng mang hồn bi ai
       sầu đông đơn côi nhiều đêm dài
       người ơi tình xưa chừ đã phai
       làm sao tôi quên tình yêu này

       chờ mong mai sau người quay về
       cùng nhau trong tay ngày vui vầy

       lòng ta hân hoan tình ban đầu
       ngàn muôn câu ca cười quên sầu
       người ơi hương xưa đừng quên mau...

       còn đây yêu thương ngày bên nhau
       người xa tôi sao lòng không đau
       người ơi người ơi đanh quên sao….


            QUÊ HƯƠNG
Lao xao Lao Xao Lao xao
Trăng vàng buông lơi chìm vào sông trôi
Đêm nay ai say mềm môi

Lòng buồn đơn côi xa xôi về đâu
Thu tàn sương rơi canh thâu
Nghe vang lời ca du dương phòng khuê
Như trông như mong người về
Như than như mang ngàn lời yêu thương
Âm thanh xa đưa sầu vương
Vang vang ngân nga quê hương chờ mong
Êm đưa thuyền trôi bên sông
Ai say đêm nay người xa về đâu
Ly hương mang mang niềm đau
Đêm khuya đơn côi chờ bao tình quê
Tương tư ngày xưa câu thề
Xa xôi xa xôi lời ca sầu vương
                                 NHÃ MY



Tên thật Lâm thị Ngọc Sương
Sinh năm 1953
Quê quán Bến Tre (Kiến Hòa)
Làm thơ, viết văn với nhiều bút hiệu và tên thật có bài đăng rải rác trên các các tạp chí văn học trước và sau năm 75 như Nghệ Thuật, Gia Đình, Khởi Hành, Thời Tập, Tư Tưởng, Tuổi Trẻ chủ nhật.
Nghỉ viết một thời gian dài, các bài sau này khi viết lại đăng trong trang blog cá nhân (SuongLam-NHA MY) và đăng thơ trong Thư Quán Bản Thảo, Blog Tiếng Thơ Tình Người, tạp chí Tiếng Quê Hương
Hiện đang sống tại Washington USA.

Thứ Năm, 27 tháng 12, 2012

Phiếm luận : TẢN MẠN VỀ ĐÔI MẮT - Nhã My


              Ảnh của Tôi
                     Ảnh tác giả Nhã My

Đôi mắt là bộ phận quan trọng của con người. Nhờ có mắt chúng ta mới có được cuộc sống hoàn mỹ. Đã từ lâu trong văn chương sách vở đôi mắt được ví như cửa sổ tâm hồn. Tả đôi mắt của người đẹp thì "làn thu thủy, nét xuân sơn", "mắt em là cả dòng sông".  Nào là mắt nai, mắt ngọc,  mắt ướt, mắt biếc, mắt mơ màng, mắt đen lánh (nhánh) hạt huyền, mắt …mơ huyền (vừa đen vừa mơ mộng chứ không phải …huyền …mờ!)

Tác giả của bài này hôm nay không miêu tả về con mắt mà chủ ý nói về những hoạt động của đôi mắt (đương nhiên không phải là khép và mở mắt tức ngủ và thức) đúng hơn là … kết quả có được do mắt làm việc .

                  "Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy ."
                  "Những điều trông thấy mà đau đớn lòng ."

Vâng! Nguyễn Du và Đoàn thị Điểm qua thơ văn đã cho chúng ta biết hai động từ trông và thấy. Trông tức là nhận xét bằng mắt trông qua cửa sổ, trông về quê mẹ (quê cũ). Người con gái đêm khuya ra đứng bờ ao. 

                  Trông cá cá lặn trông sao sao mờ.
                  Buồn trông con nhện giăng tơ.
                  Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai.
                  Buồn trông chênh chếch sao mai.
                  Sao ơi sao hởi nhớ ai sao mờ.
                                                (Ca dao)

Trông cũng có nghĩa là chăm sóc, giữ gìn: trông nhà, trông cửa trông em bé (trông trẻ), trông quán, trông (cửa) hàng. Trông cũng có nghĩa là mong chờ trong ngóng. Thiếu phụ trông chồng, mẹ trông (tin) con. 
Thấy cũng là nhận xét được bằng mắt thấy mờ mờ, thấy rõ ràng, mắt thấy tai nghe. Nhận biết được bằng giác quan nói chung như sờ thấy, ngửi thấy, nếm thấy ... Nhận biết bằng nhận thức cảm thấy, thấy vui, thấy buồn, thấy chán nản , thấy tức ... Thấy không chỉ khi mở mắt mà nhắm mắt cũng thấy một chân trời tím ngắt (?) Thấy ngay cả trong lúc ngủ như mơ thấy mộng thấy. 

                     Lạy trời đêm nay mằm mộng thấy. 
                     Mộng thấy người cho đỡ nhớ thương
                                           (Thơ của bạn LCV) 

Thấy còn để diễn tả một cảm xúc như thấy thương, thấy ghét. Hay để diển tả một sự quá độ (mệt , buồn , nhớ ...) thấy bà, thấy trời, thấy mồ tổ. Thấy được ghép với động từ cũng chỉ sự nhìn như trông thấy, nhìn thấy, dòm thấy, ngó thấy, xem thấy. Thấy là kết quả hiển nhiên của sự nhìn. 

                    "Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy.
                     Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
                     Ngàn dâu xanh ngắt một màu. 
                     Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai."

Đoàn thị Điểm đã khéo léo dùng hai từ trông và thấy để diễn tả liên hoàn một tâm trạng (bi ai) của chinh phu và chinh phụ lúc biệt ly.
 Vương Xương Linh, một tác giả Trung Quốc viết bài Khuê oán:

                    Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu .
                    Xuân nhựt hương trang thượng thúy lâu. 
                    Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc.
                    Hối giao phu tế mịch phong hầu.

Và kẻ hậu sinh này cũng bắt chước dịch như sau:

                   Trong cung thiếu phụ không sầu. 
                   Ngày xuân trang điểm lên lầu nhìn quanh.
                   Giật mình thấy sắc liễu xanh. 
                   Tiếc chồng vạn dặm công danh chưa về.
                            (Lời than khuê phụ, Nhã My dịch)

Thấy còn được "phóng tầm" ra không gian xa như nhà thơ Nguyễn Tôn Nhan đã viết:

                   Xế thu người thấy xế thu chưa.
                   Sương trắng dồn lên khắp lối về.

Bây giờ xin mạn bàn tới chữ ngó và coi.

 Ngó là động từ cũng chỉ sự nhìn, để ý tới như ngó chừng, ngó xem, ngó thấy. Bà con với ngó là ngắm như ngắm cảnh (kiểng), ngắm hoa, ngắm núi, ngắm biển. Còn có nghía như ngắm nghía (từ đôi), nghía hàng (tiếng lóng). Ngắm nghía được ghép chung thành động từ kép chỉ sự chăm chú kỹ lưỡng khi nhìn hay lựa chọn. Ngó cũng dùng như từ trên cao nhìn xuống. Người đàn bà vô phước bất lực trước cảnh chồng đi nhậu nhẹt say sưa hay đánh bài phá của, mèo chuột nhăng nhít đã phải kêu lên ''Trời ơi ngó xuống mà coi ''. Nguyễn Du (Cầm diễn giả ) đã thốt lên khi gặp lại người xưa mà nhan sắc bây giờ đã tàn phai theo thời gian năm tháng.'' Đưa con mắt ngó mà mơ. Người xưa thế ấy ai ngờ đổi thay ''(NM dịch).Và đây là một chàng trai nhớ người yêu nhưng chỉ dám'' ngó em chẳng dám ngó lâu. Ngó qua một cái đỡ sầu mà thôi'' (vì quá bận hay vì sợ người khác ... ngó thấy ?)

Coi là xem đi coi hát, coi bói, coi tướng, coi tay, coi trời, coi ngày, coi bộ, coi kìa, coi chừng, coi nhà, coi cửa, coi mạch, coi quẻ, coi sóc, coi thường, coi như là, coi mặt đặt tên, coi kiếng (soi gương) và … coi mắt (coi vợ, coi dâu), coi cọp (cọp dê tức copier ngày trước khi gánh hát về làng thường hát ở sân chợ, sân banh sân khấu lộ thiên khan giả ngồi trong sân chỉ được che chắn sơ sài những ai không có tiền mua vé thì thường leo lên cây hoặc mái nhà gần sân khấu để coi hát cọp)


Dòm tự điển tiếng Việt giải nghĩa là nhìn qua khe hở, hé cửa dòm vào . Dòm là … dò xét, tìm kiếm, dòm trước ngó sau, trông một cách chú ý , để tâm theo dỏi. Dòm ngó là tò mò chuyện riêng tư của thiên hạ (ý không được tốt). Mới đây ở trong nước có scandal ''người đẹp dòm ngực'' khi một cô người mẫu tuyên bố là ngực của cô người mẫu khác là ngực thiệt sau khi cô này đã dòm được lúc bạn đang tắm!

Liếc giải thích theo từ điển là đưa mắt nhìn chếch sang một bên, rảo tròng mắt qua một bên để trông xéo mặt vẩn ngó ngay phía trước liếc trộm, liếc xéo, liếc liếc. Cử chỉ đưa mắt liếc ngay mặt người nào đó rồi liếc trở lai liền được coi như ghét bỏ người đó hoặc tỏ ý hằn học không thân thiện. Liếc cũng là nhìn sơ qua như liếc qua trang sách, liếc mắt nhìn trộm, liếc mắt đưa tình (đá lông nheo). Phan Khôi trong" Tình già" tả cảnh:

                         Hai mươi bốn năm sau .
                         Tình cờ đất khách gặp nhau .
                         Cả hai mái đầu đều bạc .
                         Liếc mắt đưa nhau rồi .
                         Con mắt còn có đuôi
              (đừng nhìn nhau nữa ai ơi .Tuyệt!) 

Còn Nguyễn công Trứ thì cứ … ung dung

                       Liếc mắt xem chơi người lớn bé . 
                       Ngoảnh lưng bàn phiếm chuyện xưa nay .

Nhìn là động từ có nghĩa là chú ý trông như nhìn sửng, nhìn chòng chọc, nhìn trố mắt (giương mắt ra để nhìn cho rõ), nhìn trân trân, nhìn trừng trừng, nhìn trối chết.'' Mẹ già trông con nhìn lá thu rơi.'' ''Nhìn nhau mà lệ ứa .'' Nhìn cũng có nghĩa là thừa nhận nhìn bà con, bạn bè, nhìn … con rơi. 

                      Gặp nhau cũng chẳng dám nhìn.
                      Cứ xem như thể là mình chưa quen.
                                                       (Thơ Nhã My)

Xem: nhìn để biết. Xem cảnh, xem sách, xem hát, xem hội, xem đời, xem truyện.
Xem là xét lại, xét kỹ như xem sổ sách, xem thiên văn, xem tử vi, xem lại.
Xem như là so sánh xem như, xem tợ, xem xem, xem ra


Trên đây chúng ta đã đảo qua một số động từ có dính líu tới đôi mắt. Phải nói là từ ngữ tiếng Việt vô cùng phong phú và sâu sắc. Đó là những từ thuần Việt. Để diễn tả tới những … hệ lụy có liên quan đến đôi mắt người Tàu dùng từ khán, kiến. Ta không dùng những từ này như động từ mà ghép với một danh từ Hán Việt khác thành danh từ kép để diễn tả sự việc có liên quan tới sự nhìn như là khán giả, khán đài, khán phòng, khán thính giả ...  Tuy là những từ được ghép bằng chữ Hán Việt nhưng cũng là từ thuần Việt (nếu tìm trong từ điển tiếng Hoa sẽ được trả lời không thấy vì người họ không xài những từ này)
Ông cha chúng ta đã dày công vun đắp nên một nền văn hóa VN tuyệt vời đầy màu sắc mà mỗi con cháu chúng ta có bổn phận phải trân trong, giữ gìn .

Tiếng Việt còn người Việt còn. Mong lắm thay.(Phạm Quỳnh)

                                                        SƯƠNG LAM

                                         ( Trích Tôi yêu tiếng nước tôi )


******************************************************

                        TẢN MẠN VỀ ĐÔI MẮT
                                     (Bài 2)

                Bất tri tam bách dư niên hậu
                Thiên hạ thùy nhân khấp Tố Như

               (Nguyễn Du –Độc Tiểu Thanh ký )

     Tạm dịch: 


                Ba trăm năm nữa về sau
                Biết ai là kẻ khóc sầu Tố Như

Đôi mắt ngoài nhiệm vụ để xem và thấy thì còn có một nhiệm vụ khác cũng không kém phần quan trọng là dùng để... khóc.Nếu con người không ai ...biết khóc thì thế gian này chắc sẽ là chốn thiên đường còn cặp mắt và tuyến lệ kia sẽ bị ...thất nghiệp .

Đứa bé lần đầu tiên đến trình diện cuộc đời bằng ...tiếng khóc (và nếu nó không khóc được thì nguy to vì có thể là nó không muốn ... gia nhập vào cộng đồng nhân thế nhiều phiền lụy này). Ai mà dám chắc rằng trong suốt cuộc đời mình chưa một lần đã khóc.
Vui khóc, buồn khóc, tức khóc, giận khóc, sướng khóc, khổ khóc.

Khóc từ Hán Việt là khốc (có dấu ô) có nghĩa là khóc thành tiếng và khấp(chữ â) là khóc không (ra) nước mắt, không thành tiếng, khóc ở trong lòng.

Để diễn tả cách khóc từ ngữ VN ta cũng có rất nhiều. Khóc sướt mướt, khóc nức nở, khóc thảm thương, khóc thê thảm, khóc thảm thiết, khóc thê lương, la khóc, gào khóc, kêu khóc, khóc hu hu.

Ở cấp độ nhẹ hơn thì khóc rưng rức, khóc rưng rưng, khóc...sơ sơ. Và còn có khóc thầm, khóc dối, khóc …giả đò.
Khóc là phản ứng của con người khi tình cảm xáo trộn thất thường mà chưa có sự can thiệp kịp thời của lý trí. Khóc cũng có khi vô duyên vô cớ “bỗng dưng muốn khóc’’. Khóc vì vòi vĩnh vì không được thỏa mãn đòi hỏi như trường hợp của trẻ con.

Khóc không chỉ cho riêng mình mà còn khóc ... cho thiên hạ . 

                   Khóc than chi xiết sự tình. 
                   Khéo vô duyên bấy là mình với ta
                                                            (Kiều )
Thông thường thì khi khóc phải chảy (ra) nước mắt. Từ lệ trong tiếng Tàu là chữ mục (có nghĩa là con mắt) có bộ thủy (là nước ). Không nói thẳng từ khóc mà chỉ nói lệ rơi (hay rơi lệ ) lệ ứa (ứa lệ ) nước mắt tuôn rơi, nước mắt rơi sợi vắn sợi dài hoặc đơn giản bình dân hơn chảy nước mắt là ta sẽ hiểu. 

      " Lau mắt đi em lệ ướt vai rồi ..." 

                        (Sang ngang - Đỗ Lễ)

Chữ lệ còn có thêm nghĩa khác (viết khác) là xinh đẹp mỹ miều. Do đó Lệ - tên lót của những người con gái - cũng thường có hai nghĩa. Thường thì ta dùng chữ lệ là đẹp, tránh chữ lệ là nước mắt vì sợ cuộc đời của những người mang tên này sẽ không được vui vẻ.
Tôi có một người bạn có cái tên đẹp mà cũng buồn Đỗ Lệ Hoài Thu. Họ Đỗ đi với Lệ đọc ra âm Việt thì cũng giống như là đổ lệ (khóc). Những ngày còn nhỏ tôi cũng thường hay thắc mắc về cái tên của bạn. Tôi nghĩ là hẳn bố mẹ của cô ấy chắc cũng có ... máu nghệ sĩ nên đặt tên con ... sướt mướt như vậy. Rồi một hôm hỏi bạn thì được biết ... y chang như vậy. Cô ấy sinh ra vào mùa thu khi người cha “theo tiếng gọi của núi sông” đi mất và người mẹ nhớ hoài mùa thu chia ly mà khóc! Về sau không biết có phải vì cuộc đời của cô ấy có thật sự không vui hay không mà khi làm lại giấy tờ bạn tôi bỏ đi chữ Lệ.

                                                         (Nói chuyện bên lề )

Nói về khóc thì có lẽ người Tàu ... ham (mê) khóc nhứt. Trong phim ảnh của Tàu chắc chắn là sẽ có vài cảnh khóc. Diễn viên khóc chưa đủ (đã) họ còn viết thêm tiểu thuyết tình cảm lâm ly bi đát để lấy thêm nước mắt của người đời. Trong đám tang ngoài thân nhân khóc lại còn thuê mướn thêm người ngoài vô khóc (khóc để diễn tả nỗi buồn hay khóc cho người chết được ...vui vì thấy con hiếu thảo,’’bàn dân thiên hạ ‘’tiếc thương!?)

Chiến tranh loạn lạc, chết chóc tang thương đã xô dân tộc VN xa dần với những nụ cười.
Những giọt nước mắt đắng cay khóc cho số phận, khóc cảnh chia ly, khóc vì mất mát tủi nhục cay đắng khổ đau.
Và đêm nay ở nơi cái xứ sở tuyết phủ sương giăng này cũng có một người xa xứ cũng đang ... đổ lệ hoài hương.
                                                                         SƯƠNG LAM