Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản văn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

TÌNH MẸ VỚI CÁT QUÊ NHÀ - Mai Chức


Thắm thoắt  đã gần ba năm rồi, từ ngày mẹ tôi vĩnh viễn đi xa. Hôm nay, tôi ngồi trước bàn thờ mẹ viết những dòng này, lòng thấy buồn và nhớ mẹ vô cùng. Thương mẹ tôi một đời buồn khổ, tuổi thơ mẹ chịu nhiều bất hạnh.

Ông ngoại tôi chỉ sinh được hai người con gái, mẹ đang tuổi được nâng niu chiều chuộng, thương yêu thì ông ngoại qua đời sớm, hai chị em phải côi cút thiếu tình cha, sau đó bà tôi phải bước thêm bước nữa, cũng may là ông ngoại đời sau hết lòng thương yêu con đời trước, các em cũng quý mến chị vô cùng, nhà ngoại tôi cũng thuộc hàng khá giả, nên cuộc sống mẹ tôi cũng được ấm êm, đùm bọc thương yêu, nhưng chẳng bao lâu thì dì tôi – chị của mẹ - ngã bệnh ra đi khi chưa kịp mặc áo cưới, chắc mẹ tôi buồn lắm, không còn nước mắt để mà khóc chị. Chỉ biết trách trời sao số phận quá hẩm hiu, đau thương mãi dồn dập.

Nhưng rồi thời gian vẫn cứ trôi, mẹ vẫn lớn lên theo cuộc sống từng ngày, để sau này lấy cha tôi, một nông dân nghèo cũng mồ côi mẹ, ông nội phải gà trống nuôi con, có lẽ cùng cảnh ngộ và thấu hiểu nỗi đau của cuộc đời, nên cha mẹ tôi sống chung thủy và yêu thương nhau đến tuổi già.

Về làm dâu nhà chồng, mang theo mấy sào ruộng ngoại cho, sống lam lũ quanh năm, mẹ lo toan đủ  điều, xoay sở tính toán, nào giỗ chạp, tết nhất, họ hàng nội ngoại. Cha tôi thì tính tình phóng khoáng, rộng rãi với bạn bè, vì thế mà mẹ tôi phải lo nhiều hơn, vất vả nhiều hơn. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mẹ khổ nhiều, mà các con thì chẳng giúp được gì cho mẹ.

Tôi thương mẹ một đời khó nhọc,
Lưng mẹ còng vì gánh lúa gánh khoai.
Mẹ không buồn, luôn nghĩ đến ngày mai,
Con khôn lớn là niềm vui của mẹ.

Cuộc sống đang bình yên, khói lam chiều vẫn đong đưa dưới lũy tre làng, bỗng chốc quê  tôi đã bắt đầu có bóng giặc, cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu. Gót giày thực dân đã in dấu trên đường đất làng tôi, nhà mẹ hai lần bị giặc đốt, bắt mang lúa mang đổ xuống bùn vì sợ nuôi sống Việt minh, các cậu tôi phải từ giã mẹ lên đường đi kháng chiến.

Sau Hiệp định Geneve, tưởng đâu đã có hòa bình, hẹn ngày thống nhất, nhưng chỉ được đến năm 1966, dân làng tôi lại lũ lượt ra đi tránh bom đạn Mỹ, mỗi người đi một xứ, bỏ lại sau lưng những ký ức đau buồn, một làng quê dịu ngọt như trái chín trên cành.

Gia đình tôi ly hương từ đó, khi đến sống tại đất Gia Lai thì mẹ đã già gần 70 tuổi, nơi ở mới cuộc sống cũng không khó khăn lắm, nhưng mẹ tôi thương nhớ quê hương  vô cùng. Mẹ nhớ như in những tên người, tên đất “nào ông Sang, ông Biểu, Ngõ Đa, Ngõ Súng”. Cứ mỗi lần nhắc đến quê hương, mắt mẹ tôi nhòa đi vì luôn đòi con cháu dẫn về thăm.

Vén mây nhìn tận quê nhà,
Xa xa vọng tiếng gà gáy trưa.
Lòng buồn mắt mẹ đổ mưa,
Tìm trong nỗi nhớ, tình xưa vẫn đầy.

Có  mấy dịp về thăm quê, lần nào mẹ tôi cũng cố  mang vào một ít cát quê nhà (làng quê tôi, sau làng có nhiều đôộng cát trắng) để mẹ đổ đầy vào các lư hương thờ tổ tiên, mẹ tôi thường nói: “Cát An Mỹ làng ta mịn mà sạch lắm, không như cát ở đây, to hột và nhiều sạn, mấy đứa bây khi mô về quê, nhớ mang vô để bỏ vào bát hương, nhìn vô đỡ nhớ quê, đỡ nhớ làng”. Ôi tình mẹ tôi đối với quê hương sao mà sâu sắc, đậm đà và cảm động đến thế !

Những năm cuối đời, gần 100 tuổi, mẹ tôi “lẫn” đi nhiều, lúc nào cũng chiếc nón lá trên tay, chào hàng xóm, láng giềng, con cháu để về quê, ai nghe cũng cảm động, tôi phải đi tìm hoài, thật tội nghiệp mẹ.

Bây giờ thì mẹ tôi đã đi xa, tôi mang được ít cát ở quê vào, đứng trước bàn thờ mẹ, tôi thì thầm: “Chúng con đã mang cát quê mình vào đấy, cát vẫn mịn và sạch như ngày nào mẹ ơi, mẹ có nghe không, tiếng rì rào của gió nồm vang trong cát, tiếng thì thầm rả rích của gió bấc mưa phùn và cả tiếng rít gào của gió Nam Lào  nữa, quê mình đang có ở đây rồi mẹ”.

Ôi quê hương như chùm trái ngọt, ai đi xa mới thấy hết vị ngọt của quê nhà, tôi xa quê từ lúc 18 tuổi vì cuộc sống nên cũng ít lần về thăm, nhưng trong giấc mơ bao giờ cũng in dấu tuổi thơ và kỷ niệm buồn vui ở An Mỹ - Gio Linh.

Thắp ba cây hương cắm lên lư hương của bàn thờ mẹ, một làn gió nhẹ lùa qua song cửa, khói ùa vào mặt, tự nhiên tôi thấy chơi vơi, lòng cảm thấy trống vắng bồi hồi rung động đến lạ thường, tưởng đâu mẹ đang hiển hiện ở nơi đâu đây.

Hương thơm khói nhẹ bay bay,
Tôi ngồi nhớ mẹ nghe cay mắt buồn.
Ngoài hiên từng giọt mưa tuôn,
Nghe như trong gió lời buồn mẹ ru.

                                             Pleiku, chiều 26/7/2012
                                                        Mai Chức

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

NỐI NỤ TIN YÊU - Tản văn của Phan Trang Hy


       
       Những ngày cuối tháng Ba, giòng sông Hàn khẩn trương những giai điệu rộn ràng của trời xuân Đà Nẵng. Những bụi mù, những khói dầu, những tiếng động, những giọt mồ hôi, những bữa cơm ăn vội… cũng không làm mệt những người thợ đang làm nốt những việc để hoàn thiện những chiếc cầu nối hai bờ giòng sông giữa lòng thành phố.
       Xưa phố  bên sông. Giờ sông giữa phố. Và, giờ sông đẹp thêm nhờ những chiếc cầu.
       Đã qua những ngày vui khi Cầu Sông Hàn nối lòng người Đà Nẵng lại với nhau. Nối lòng người Quảng Nam - Đà Nẵng lại với nhau. Mừng Cầu Sông Hàn những người con Đất Quảng từ Tiên Phước, Hiên, Giằng đến Duy Xuyên, Đại Lộc, từ Chu Lai, Thăng Bình đến Cửa Đại, Điện Bàn, từ Hà Nội, Hải Phòng đến Sài Gòn, Đất Mũi… cũng về chung vui. Những người con Quảng Nam, Đà Nẵng nối tình anh em ruột thịt của Vu Gia, Thu Bồn, của Bà Nà, Non Nước… bên giòng sông quê Mẹ.
       Rồi những chiếc cầu mới nối tiếp, những chiếc cầu nối đôi bờ giòng sông Hàn chảy ra Biển Đông. Chợt trong tôi vang lên lời ca của một ai đó: Cầu này cầu ái, cầu ân…Có phải những chiếc cầu trên sông Hàn là cầu ái, cầu ân? Tôi không nghĩ chữ ái ân của chuyện vợ chồng, của những người bạn tình khác giới. Tôi đang nghĩ đến chữ ái, chữ ân trong lời ca ái tử, trong nỗi lòng ái quốc, trong ân tình, ân nghĩa thủy chung.
       Và trong tôi vang lên lời ca Nhịp cầu nối những bờ vui. Lời bài hát ngày nào vẫn như vang trong từng con phố, như thấm trên từng cây lá hai bờ sông Hàn, như lung linh, nhảy múa trên những đèn trang trí, như rộn ràng khúc nhạc biến tấu của giai điệu đường phố trên đường Bạch Đằng, như cánh diều trên bãi biển Mỹ Khê, như những nụ cười rạng rỡ dưới những màn pháo hoa kỳ thú…
       Nhịp cầu nối những bờ vui và những chiếc cầu nối những những bờ vui. Nối cả niềm tin yêu, nối cả gương mặt của tiền nhân với con cháu, nối cả đất liền với biển đảo, nối truyền thống Diên Hồng, Chi Lăng, Đống Đa với Phú Lâm, Gạc Ma. Trong tôi hiện lên điều ước. Ước gì có ngày nào đó, chiếc Cầu Rồng hướng ra Biển Đông có phép thần vươn mình ra tới tận Hoàng Sa, nối bán đảo Sơn Trà với quần đảo Cát Vàng, để Hoàng Sa mãi là của Việt Nam như trong sử sách.
       Cách Cầu Rồng về phía Nam không xa là chiếc cầu mang hình dáng chiếc thuyền với cánh buồm duyên dáng. Tôi ước cánh buồm đó nối những chuyến tàu từ Đà Nẵng tới mọi miền của Tổ quốc. Nối Đà Nẵng với Trường Sa, Côn Sơn, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ, Hạ Long, Cồn Cỏ… Nối Đà Nẵng với biết bao cảng trên khắp hành tinh này.
       Tôi tin Rồng và cánh buồm nối khí thiêng dân tộc đến với con cháu Quảng Nam - Đà Nẵng hôm nay, nối anh linh tiền nhân đến với thế hệ mai sau bằng niềm tin và nghị lực, bằng sự yêu thương, hóa giải của mọi con dân nước Việt.
       Trong tôi, những chiếc cầu trên sông Hàn như nối đêm với ngày, như nối tình yêu, ân nghĩa, nối khát vọng lớn lao, nối lòng bao dung, đạo làm người, nối bao điều tốt đẹp đến với cuộc sống hôm nay. Tôi tin chắc một điều là lòng người Quảng Nam - Đà Nẵng nối kết thành một khối vì thành phố của mình. Lòng người Đất Quảng cũng mong kết nối với đồng bào mình đang làm ăn, sinh sống khắp năm châu, cùng với bạn bè chân tình trên thế giới.
       Trong tôi rộn lên lời bài hát: Chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta…
       Tôi đứng ở hữu ngạn sông Hàn nhìn những chiếc cầu như nối nụ tin yêu ngày mới.

     Đà Nẵng, tháng Ba - 2013
    Phan Trang Hy

Thứ Sáu, 8 tháng 3, 2013

HOA XUÂN - Tản văn của LÊ HOÀNG

Hoa đào Đà Lạt
                                                                          
                           
                             “Khứ niên kim nhật thử môn trung,
                              Nhân diện đào hoa tương ánh hồng,
                              Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
                              Đào hoa y cựu tiếu đông phong.”
        Thôi Hộ nhìn người đẹp, có gương mặt rạng rỡ như hoa đào nên đặt tên một loài hoa là "Nhân diện đào hoa".
        Có rất nhiều loại hoa trên thế giới. Hoa mọc khắp mọi nơi. Hoa thiên nhiên, hoa do con người trồng. Hoa trên cành, hoa trên vách đá, vách núi, hoa trên đất và hoa mọc cả dưới lòng sông, lòng biển.
        Hoa nở giờ giấc cũng khác nhau. Có hoa nở ban ngày, có hoa nở về đêm, hoa mười giờ v.v...
        Hoa dùng để tô điểm cho cuộc đời thêm tươi sáng và hoa làm đẹp cả lòng người.
        Tục xưa tin rằng hoa Đào trừ được ma quỷ do tích cũ của hai vị thần Uất Lũy và Thần Trà .
        Hoa Đào luôn đem lại cho mọi người những ý tưởng tốt lành giấc mơ đẹp. Hoa làm đẹp cho phòng khách và hoa Đào, hoa Mai nở cho ta thấy mùa Xuân đang đến.
        Hoa Đào có rất nhiều giống như: Oan ương đào,Thọ tinh đào, Thủy tinh đào, Nhật nguyệt đào, Mỹ nhân đào và Nhân diện đào.
       Ở Đà Lạt, trên núi Lang Biang (Lâm Viên) còn có hoa Đào dại mọc hoang trong rừng. Cứ mổi năm đến độ gần Tết hoa Đào lại nở rộ báo hiệu Tết sắp đến. Cây anh đào mang đặc tính của thực vật miền ôn đới mùa Thu, cây trút lá bắt đầu nghỉ đông, cây trơ lại cành. Hoa Anh Đào ở Đà Lạt khác với hoa Anh Đào ở Nhật Bản. Nó có tên: Prunus Cerasoides, hoa có 5 cánh đơn giống như hoa Mai (Creasus).


Hoa Phong Lữ

       Ở Đà Lạt còn có hoa Cúc nở quanh năm. Có tất cả trên 20 thứ Cúc khác nhau như: Sans-souci (Không ưu phiền), Hortcusia (hoa Cẩm tú ), Pense'e (hoa Học trò), Oeillet (Cẩm chướng), Cosmos (Bươm bướm), Violette (hoa Tím), Immortelle (hoa Bất tử ), Arum (hoa Cuốn kèn) .v.v... Có một ít loài hoa có nguồn gốc từ Mể Tây Cơ, Bắc Mỹ, Châu Phi, Châu Âu. Khi du nhập vào Việt Nam lại có tên Việt như :Hoàng Anh (Verge d'or), Thược Dược (Dahhia), Thu Hải Đường (Begonia rex), Dạ Hợp (Maguelia), Mỏm Sói (Gueule de loup), hoa Lồng đèn ( Fuchsia), Phong Lữ (Geranium), Xác Pháo (Sauge Eclatante ), Sen đá (Joubrabe des toits), Sen cạn (Capucine).
     Người ta phân tích hoa rất nhiều loại. Nếu tính ra thì trên thế giới có hơn cả một trăm ngàn loại hoa, chúng ta không thể biết để kể ra cho hết được.

   1/ Vương Giả Chi Hoa:
Lan Phi Điệp vàng

        a/ Hoa Lan: được ban tặng "Vương giả chi hoa" tức là chúa các loài hoa.
            Phong Lan: Bám vào cây khác để sống.
            Thạch Lan: Lan bám vào vách đá, núi cao để sống.
            Lan địa sinh: Mọc trên lá và đất bùn.
            Lan hoại sinh: Có rất ít hoặc không có diệp lục tố và mọc trên hoại thể thực vật khác. Ở Việt Nam (rừng Cúc Phương) có Lan gót tiên. Mặt trong hoa màu hồng, mặt ngoài có chấm màu tía.
            Phi điệp kép: Hoa to rất đẹp, màu hồng, họng hoa điểm màu tía, mọc thành từng chùm.

        b/ Hoa Huệ : Bao hoa hình phểu, màu trắng nở 4 mùa huơng thơm tỏa thơm ngát về đêm, rất dể chịu. Hoa này ở Á Châu phần nhiều chỉ dùng cho tang lễ, cúng kiến hay trong chùa, nhà thờ. Tuyệt đối không tặng nhau hoa Huệ.
                  " Huệ, Lan sực nức một nhà,
                    Tình cay đắng, lại mặn mà hơn xưa"

Hoa Mẫu Đơn Trung Quốc

        c/ Hoa Mẫu Đơn: Một lòai hoa đẹp, to bằng cái chén  có 4 màu: trắng, đỏ, vàng, tía. Ở Trung Quốc thời xưa họ Diên trồng được hoa màu vàng nên gọi Huệ "Diên Hoàng". Còn họ Ngụy trồng được hoa màu tiá thì goi là "Ngụy Tử "
            Người thời xưa rất qúy hoa mẫu đơn, nên gọi là "Vương Hoa" hay có nơi gọi là "Phú Qúy Hoa" để chỉ sự giàu sang.
                 "Thược Dược khó mươi phần tươi tốt,
                   Mẫu đơn khoe hết lực giàu sang ." (Ng.H.)
            Mẫu đơn còn tượng trưng cho người con gái đẹp" Quốc sắc thiên hương "
                 "Đã nên quốc sắc thiên hương ,
                   Nụ cười này hẵn, ngàn vàng chẳng ngoa."
    Cho nên truyền thuyết vua Minh Hoàng đời Đường có lập một cái vườn Thượng Uyển ngày đêm vua cùng Dương Qúy Phi thưởng thức hoa Mẫu Đơn.
                  "Mây mưa mấy giọt chung tình,
                   Đình trầm hương, khóa một cành Mẫu Đơn." (NG.G.TH.)
         
   2/ Phú Hào Chi Hoa:

Hoa Tường Vy (Hồng Huế)
                a/ Hoa Hồng: Là một loại hoa đẹp, ngát hương, được nhiều người ưa chuộng. Hoa Hồng có 26 giống chính và người ta đã lai tạo ra được trên sáu ngàn loại hoa Hồng. Hoa Hồng còn được mệnh danh là "Hoàng hậu của các loài hoa". Hồng, nhưng có nhiều màu: Hồng, trắng, vàng, đỏ, đỏ sậm. Hồng cũng còn có loại to, nhỏ khác nhau. Hồng Huế, hay còn gọi là Tường Vi, Hồng Tỷ muội v.v...
             Người Châu Âu cho loài hoa Hồng đẹp hơn cả, có nhiều tác phẩm ca ngợi hoa Hồng ở châu Âu. Có trường hợp ở nước Anh hồi thế kỷ 15 đã xẩy ra cuộc chiến gọi là "Cuộc chiến hoa Hồng" tranh dành ngôi vua giữa hai dòng họ Landcaster và York .
             Còn phương Đông cho hoa Hồng là lẳng lơ (Liễu ngỏ hoa tường), ví như con gái phận bạc như hoa hồng vậy.
              "Em nay là khách sang sông,
                Hoa mùi ấm cội, hoa hồng say sưa."

             b/Hoa Mai: Có hai loại hoa Mai: Hoa mai Vàng, và hoa Mai trắng. Các thi sỉ thường cho hoa Mai là hoa khôi vì nó nở vào dịp TẾT về . Mai vàng thuộc họ "Lão Mai." Hoa Mai trắng thuộc họ "Phụ Mận"

         c/ Hoa Cúc : Những giống Cúc được trồng phổ biến là Cúc vàng có hoa to cánh mềm, màu vàng rực rỡ. Cúc có Cúc Hoàng Kim, Cúc Đại Đóa. Hoa Cúc tỏa hương thơm dịu.
       Đức Khổng Tử đả đặt cho danh hiệu "Niềm vinh quang của mùa thu" cách đây hơn 500 năm. Người Nhật coi Cúc là người bạn tâm tình. Còn Thụy Sỉ, Bỉ thì dùng hoa Cúc để viếng mộ.
                 "Nét buồn như màu Cúc, điệu gầy như Mai".

    3/ Quân Tử Chi Hoa: Hoa Sen.

           Hoa sen có hương thơm ngát và dáng đẹp. Người Việt Nam chúng ta coi sen là biểu tượng của người quân tử. Hoa sen còn  chưng nhiều ở các lể của các chùa chiền và gia đình Phật Giáo.Tượng trưng cho sự thanh cao, thanh khiết, sự trong sáng của tâm hồn.
                "Trong đầm gì đẹp bằng sen,
                  Lá xanh, bông trắng lại chen nhụy vàng".
      Người quân tử có tính khí khác thường, lấy lượng rộng để cư xử với mọi người trong xả hội, nên có câu :
                "Người quân tử khách hồng nhan,
                  Càng khôn, càng rộng, tao đoan càng dài ".

   4/ Bình dân chi hoa: Hoa vạn thọ.



            Hoa vạn thọ có nhiều lọai hoa. Loại cây cao, hoa to, màu vàng, màu đỏ, còn có loại cây thấp hoa màu vàng, giống lùn, hoa nhỏ có viền cánh hoa màu đỏ. Cùng họ có hoa Mồng gà, Hoa nở ngày
           Ba loại hoa trên được gọi là hoa Bình dân. Hay Bình dân chi hoa. Người ta ưa dùng trong những ngày Lễ, Tết, Hội v.v...
           Nói đến hoa thì không thể nói hết. Những người con gái cười tươi như hoa, đó là những hoa biết nói, hoa này thì cũng biết bao văn, thơ thi sỉ, nhạc sỉ diễn tả qua bao hình thức nội dung để ca ngợi cái vẻ đẹp muôn thuở của người con gái.
               "Đưa em lên vùng hoa Anh đào,
                Trời mùa Đông, Đà Lạt ở trên cao,
                Em khép nép vào vai anh ru giấc mộng,
                Biến yêu thương thành nắng ấm cõi lòng.
                                                                 *   
                                                              *      *
                Ối! Đà Lạt ngàn hoa vươn sức sống,
                Kim, dáng gầy, anh ôm trọn đầy tay.
                Tìm một cỏi yêu thương mình  chợt thấy,
                Em ơi em, kiếp này có đọa đầy,
                Anh vẩn nói, yêu em trọn vòng tay.”
                                                                          
                                                  Lê Hoàng
                                                                           lehoang32@ymail.com

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

GIỎI TIẾNG VIỆT ĐỂ YÊU NƯỚC VIỆT HƠN - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba



Anh Nguyễn Phúc Vĩnh Ba là một nhà giáo đã nghỉ hưu khá lâu. Dù thế, anh vẫn luôn nặng lòng trăn trở với nền giáo dục nước nhà. VNQT xin giới thiệu một bài viết của anh 




GIỎI TIẾNG VIỆT ĐỂ YÊU NƯỚC VIỆT HƠN
                         
     1. Một giáo viên môn Sử hỏi tôi, “Anh ơi, sao gọi là ‘phe đồng minh’ vậy anh? Từ minh đó có cùng nghĩa với từ minh trong cụm từ ‘Mặt trận Việt Minh’ không?” Tôi trả lời, “Cả hai từ minh đó có cùng nghĩa là thề nguyền/ lời thề, đồng minh là cùng thề với nhau theo đuổi một lập trường, một lý tưởng, một mưu đồ… nào đó.” Luôn thể, tôi hỏi lại anh bạn trẻ, “Thế từ minh trong các cụm từ ‘rừng U minh thượng’, ‘bài minh trên chuông’, ‘loan phụng hoà minh’ hay ‘quang minh chính đại’ có nghĩa gì, giống hay khác nhau?”. Anh bạn trẻ kêu lên, “Tiếng Việt ta khó quá, em bó tay chấm com mất. Có ai dạy cho em mà em biết, thường nói theo thói quen mà thôi.”
Những cụm từ được nêu trên có lẽ cũng không mấy xa lạ với chúng ta. Có từ được nói hằng ngày mà đôi người không cố hiểu được cho đến nơi đến chốn. Hơi cường điệu một chút, theo ý tôi, phần lớn giới trẻ bây giờ có lẽ e cũng bó tay theo anh bạn trẻ đó. Phải chăng vì chúng là từ Hán Việt nên chúng ta không nhọc lòng quan tâm đến? Cứ nói thuội theo báo đài sách vở là được.

Thế còn từ thuần Việt thì sao? Có lần vào đầu năm học, tôi gọi điểm danh học sinh đến em Hà Văn Cau thì cả lớp cười ồ lên. Tôi hơi ngạc nhiên. Tiếp đến, qua vài em khác đến em Trần Thị Mè thì cả lớp lại cười ồ một lần nữa. Hoá ra, bên cạnh Phương Dung, Quang Huy, Thu Tuyết,.. thì Cau và Mè xem ra cũng hơi lép vế và khôi hài. Đó là chuyện vài học sinh nông thôn. Còn ở thành phố, con cái của các bậc thị dân khoa bảng, các thương nhân giàu có, hay của cả các người bình dân dứt khoát không thể là Nguyễn Thị Trăng Thu, Phạm Văn Trời Sáng được, nói chi đến Rau, Đậu, Mè, Vừng…. Chúng phải là Nguyễn Trần Thu Nguyệt hay Phạm Võ Nhật Quang, tên sao phải nghe trang trọng, oai vang chứ nôm na mách qué là không xong rồi. Ở đây, chúng ta lại quá tả, quá trọng thị từ Hán Việt. Vì thế, tôi thỉnh thoảng được các bố mẹ trẻ tư vấn khi đặt tên con, họ sợ cái tên nghe kêu ấy lại thậm không có chút ý nghĩa gì hết, mất hay.

2. Hai trường hợp trên nêu lên một hiện trạng bất nhất đang diễn ra trong việc sử dụng tiếng Việt của người Việt: Thích dùng từ Hán Việt mà không chịu học từ Hán Việt. Trong một bản tin dự báo thời tiết gần đây tôi nghe được, nhà đài báo rằng ngày mai một luồng không khí lạnh sẽ bổ sungcho khí hậu ở vùng Đông Bắc Bộ và trong tuần tới một cơn gió mạnh cấp 6 sẽtập kích miền Nam Trung Quốc… Chúng ta thường nói bổ sung lực lượng (vì thiếu hụt), bổ sung kiến thức (vì chưa đủ)… chứ làm sao mà bổ sung cái khí lạnh khổ sở đó vào miền Bắc của chúng ta được. Tương tự thế, hiện tượng thiên nhiên gió bão không xảy ra nơi này thì xảy ra nơi kia làm sao lại cố ý tập kích (đánh úp) vào xứ Trung Quốc thế. Xét cẩn thận hơn nữa thì từ tập trong từ tập kích và từ tập trung hoàn toàn khác nhau đấy.

Chúng ta phải công nhận một sự thật lịch sử: từ Hán Việt là một thành phần bất khả phân ly của tiếng Việt. Từ chối nó là đi ngược với qui luật phát triển của ngôn ngữ và làm nghèo đi tiếng Việt của chúng ta. Chúng ta đã dùng từ Hán Việt cả hơn ngàn năm, nên không còn có thể khước bỏ nó được. Lấy ví dụ, ai lại thay thế cụm từ “gia đình hạnh phúc” bằng “cả nhà sung sướng”. Cả nhà đó dù thiếu thốn (không sung) và vất vả (không sướng) nhưng họ yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau thì họ vẫn là một gia đình hạnh phúc như thường.

Có trường hợp ngược lại, dù có từ thuần Việt tương đương, chúng ta cũng không dùng được trong trường hợp nhằm diễn tả sự tôn trọng. Ví dụ như thay vì nói vua nước Thái và vợ sẽ đến thăm Việt Nam vào tuần tới, chúng ta nên nói Quốc vương Thái Lan và hoàng hậu sẽ đến thăm … Tự bao giờ, từ Hán Việt được khoác cái ý nghĩa quý phái, trang trọng và cung kính. Ví dụ nữa, từ “tiền nhân” lại dường như có nghĩa kính trọng hơn là từ “người đời trước”.

Bên cạnh tình trạng đáng tiếc thường xảy ra trên, nếu không bàn đến các từ mượn từ các ngôn ngữ khác thì tôi e rất thiếu sót, nhất là từ tiếng Pháp và tiếng Mỹ. Thoạt đầu, chúng ta vay mượn hầu để diễn tả những vật/ khái niệm chưa có như xà phòng (savon), nhà ga (la gare), bơ (le beurre), mát xa (massage), sâm banh (champagne) … Về sau, dù có từ thuần Việt sẵn rồi, chúng ta lại thu nhập một số từ cho oai như tin hot, tuổi teen, các fan … Thậm chí có cuộc thi hoa hậu khá sôi nổi lại mang tên là Miss Teen như là đang xảy ra bên xứ Mỹ vậy.

Nhìn vào thực tế, việc sử dụng tiếng Việt ta ngày nay đã trở nên xô bồ và không tuân thủ một số qui tắc thông thường. Nếu kể ra thì không biết là bao nhiêu ví dụ. Ví dụ, từ gov thì được phát âm là gờ o vê thay vì giê ô vê hay gờ o vờ; nữ anh hùng trong khi từ ‘hùng’ có nghĩa là giống đực; hơi bị hay thay cho khá hay,… Thậm chí một quan chức phát biểu trong nghị trường đại khái rằng làm ăn kinh tế thì có phi vụ (chuyến bay) thất bại là thường. Hẳn ông ta không biết rằng phi vụ là tiếng lóng dành cho việc làm ăn phi pháp của gian thương xã hội đen, chứ làm ăn chân chính xã hội chủ nghĩa thì phải gọi là thương vụ. Thật là một nhầm lẫn chết người.

Vậy nói, viết cũng cần có luật lệ là hiển nhiên.

3. Đúng là ngôn ngữ có tính võ đoán, dùng lâu dài sẽ trở thành phổ thông và chính thống, nhưng có điều quan trọng chúng ta nên thấy là sử dụng tiếng nói của dân tộc ta giỏi làm chúng ta yêu đất nước chúng ta hơn. Vì sao vậy? Tôi rất đồng tình với nhận định của một số nhà nghiên cứu rằng tình yêu nước chủ yếu dựa vào tiếng nói của dân tộc sống trong nước đó. Quốc gia không chỉ là một vùng lãnh thổ hữu hình mà còn cả một nền văn hoá phi vật thể đồ sộ của người dân sống trên đó. Chính nói cùng tiếng nói gắn kết những con người đó với nhau, làm họ hiểu nhau, thấy cái đẹp của nòi giống mình, và muốn sống cạnh nhau. Thông qua tiếng nói rồi về sau là chữ viết, người dân cùng chung một ký ức văn hoá, chung một lịch sử đấu tranh, chung một niềm tin dân tộc, … khiến họ trở thành một khối thống nhất dù khác huyết thống, trình độ kinh tế, tập tục,…. Từ đó, tình yêu cái khối thống nhất đó, có tổ chức quản lý, tạo nên truyền thống và xây dựng một niềm tự hào dân tộc, là cái cốt lõi của tình yêu nước. Ta thường thấy mọi quốc gia đều cố thống nhất tiếng nói, chữ viết để củng cố sức mạnh của đất nước là vì vậy.

Với các quốc gia đa sắc tộc, một tiếng nói, một loại chữ viết được chọn làm chủ đạo, thường là của sắc tộc mạnh nhất và được gọi là ngôn ngữ hay chữ viết chính thức. Ở nước ta là tiếng Kinh, chữ Việt. Không sành sõi tiếng mẹ đẻ thì tình yêu nước chỉ là một phản ứng tự vệ có tính bản năng. Chính sành sõi tiếng mẹ đẻ làm tình yêu nước nồng nàn hơn, làm ta yêu được những người khác với ta lắm thứ, sống vào một thời, một nơi xa ta rất nhiều, mà bởi chỉ vì cùng tiếng nói. Một anh chàng đen đủi to cao sống tận châu Phi gần cả một đời lại oà ra khóc khi nghe được tiếng Việt, hoá ra mẹ anh ta là người Việt. Cái sợi giây thiêng liêng kết nối anh ấy với quê mẹ chính là tiếng nói vậy.

4. Nhạc sĩ Phạm Duy từng viết, “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi! Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi! Tiếng ru muôn đời. Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui. Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi! Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi. Thoắt nghìn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!...” Vâng, từ tiếng nói khi nghe đầu đời rồi qua ngàn năm thành tiếng ru muôn đời và thành tiếng lòng tôi. Nhạc sĩ Phạm Duy viết thế quả rất súc tích. Nếu ta không thấm cái vẻ đẹp của đất nước qua tiếng nói đặc thù của dân tộc thì làm sao mà có một lòng yêu nước cháy bỏng và tha thiết được.

Nhà báo thời danh Nguyễn Văn Vĩnh
Nhà báo thời danh Nguyễn Văn Vĩnh năm 1907  trong lời tựa của Truyện Tam Quốc Chí do Phan Kế Bính dịch đã có câu nói bất hủ: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Rõ ràng cụ đã nhận thấy dù dân ta có cải lương y phục, nhà cửa, lề thói, … để thích nghi với tiến bộ Âu Tây như hiện nay mà còn giữ được tiếng Việt thì vẫn còn là con người Việt, có bản sắc riêng. Tầm quan trọng của tiếng nói là thế đó.

Một Việt kiều thế hệ thứ 2 nếu không biết nói đọc tiếng Việt thông thạo hẳn khó mà có được một lòng yêu nước nồng nàn. Điều dễ hiểu là bởi anh ta bị cắt rời khỏi tâm thức dân tộc, không có lòng tự hào về dân tộc mình. Một người dân Việt không sành sõi tiếng Việt, không hiểu được văn hoá Việt, nói chêm lung tung tiếng nước ngoài thì cũng như Việt kiều trên thôi.

Trừ phi ai đó nói liều rằng chỉ cần tình nhân loại thôi, đừng nên bảo thủ hẹp hòi trong phạm vi quốc gia nhỏ bé, giỏi tiếng mẹ đẻ vẫn là điều tiên quyết để yêu đất nước sâu đậm thiết tha hơn. Tình trạng sử dụng tiếng Việt ta hiện nay là thế. Làm sao dạy cho con cháu ta giỏi tiếng mẹ đẻ, rồi từ đó yêu đất nước hơn là một nhiệm vụ cấp thiết của các giới chức hữu quan.

Đó lại là một vấn đề khác.

                                                               Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Thứ Hai, 11 tháng 2, 2013

CHỢT THẤY HỒ XUÂN HƯƠNG VÀ LÊ CHIÊU THỐNG - Tản văn của Phan Trang Hy



Tết năm nay nghỉ nhiều hơn mọi năm. Vui thật, nhưng cũng có chút bâng khuâng. Khi đánh vi tính cho bài viết này, tôi nghĩ lại những ngày giáp Tết. Đối với tôi, thời gian ấy, công việc quả là bận rộn. Nào là lo nốt những chuyện chưa xong trong năm, nào là dọn dẹp lại nhà cửa, quét dọn rác rưởi cả năm... để đón xuân. Thế nhưng, vẫn có chuyện chưa xong. Lòng tự nhủ lòng thôi thì để rồi sẽ tính.  

   
     Được nhất, thú  vị nhất là giờ phút giao thừa. Ngày thường, vì chuyện này chuyện nọ, dù là người mình yêu thương nhất, đôi lúc cũng có tiếng qua tiếng lại, vẫn có những ý kiến trái ngược nhau, đôi lúc bực mình, tức tối. Nhưng đến phút Giao thừa, các thành viên trong gia đình tôi, không ai bảo ai, tự răn mình, đối đãi tử tế, tình cảm, và tôn trọng nhau. Sau khi cúng Giao thừa xong, các thành viên trong gia đình tôi ngồi quanh bàn uống trà, ăn bánh, mứt... Rồi lì xì mừng tuổi, chúc nhau những lời tốt đẹp cho cả năm. 
 
    Sau đó, tôi chở vợ, cùng con đi chùa. Vài năm gần đây, chiều theo ý vợ, tôi cũng thành tâm khi đến chùa. Giờ phút đầu năm quả là tuyệt diệu. Cảnh chùa khói hương nghi ngút. Đông người thật. Nhưng không ai chen lấn ai. Trước sân chùa, có một cây cảnh vừa tầm, trên mình nó mang những lời chúc Tết, cầu may được ghi sẵn, gọi là “lộc xuân”. Rất nhiều, đủ để mọi người đi chùa lễ Phật có thể “hái lộc” đầu năm.  
 
    Rất nhiều “lộc”. Không biết có phải đó là “lộc” bằng giấy, nên chẳng có ai tranh giành, cướp giựt? Chỉ  có sự nhường nhau, rất lịch sự, tử tế. Chỉ có lời chúc nhau, cùng những cái gật đầu, bắt tay dù người đối diện chẳng mấy thân quen. Lòng tôi dâng lên niềm vui. Ước gì cả năm mọi người lịch sự, tử tế với nhau!
   
     Rồi những ngày Tết cũng sắp hết. Sáng nay, gỡ tờ lịch. Đúng ngày mùng 5. Nhớ lại trước đây, khi còn đi học, ngày này được nghỉ lễ. Không phải là lễ Tết mà là lễ Chiến thắng Đống Đa. Nhưng năm nay tôi chẳng thấy ghi. Trước mắt tôi, tờ lịch nhòe đi, hiện lên hình ảnh Lê Chiêu Thống đang cười mỉa tôi, đang nhạo báng, thách thức tôi. Tôi giương to mắt nhìn. Xem mình có nhầm không. Trong đầu tôi hiện ý của ai đó nói là thời gian sẽ xóa nhòa đi tất cả. Nhưng thời gian dễ gì xóa nhòa lịch sử. Không lẽ thời gian lại hiện lên gương mặt kẻ rước voi về giày mã tổ trên tờ lịch, trên thời gian. Tôi  buồn. Đâu rồi hình ảnh Quang Trung đại phá quân Thanh? Đâu rồi tiếng hò reo thắng lợi giữa Thăng Long? Đâu rồi? Đâu rồi?... 
 
     Sáng nay, ăn nốt những lát bánh tét cuối cùng. Nhai lát bánh chiên, tôi thoáng thấy hình ảnh quân Tây Sơn hành binh ra Tam Điệp, rồi thoáng thấy bữa ăn vội của họ trước trận đánh Ngọc Hồi - Đống Đa. Tôi cũng thoáng thấy hình ảnh các chiến sĩ Hoàng Sa năm nào chưa kịp ăn miếng bánh tét, lại phải đổ máu hy sinh vì nước, vì non. Và trước mắt tôi hình ảnh những người chiến sĩ Trường Sa ăn bánh tét, canh giữ biển trời nước Việt. Ngàn lần biết ơn các anh. Tôi phải gọi thế dù đầu tôi đã bạc! Tôi xin các anh có một chút yên bình để nhâm nhi chút trà, chút mứt... Xin các anh đừng ăn vội bánh tét ngày xuân. Xin các anh cứ thư thả hưởng hương vị quê nhà qua từng thời khắc...    

     Có tiếng điện thoại reo vừa lúc tôi ăn sáng xong. Tôi vội nghe. Thằng bạn thân gọi tôi đi uống cà phê sáng. Rửa miệng, rửa tay xong, tôi đến chỗ hẹn. 
  
    Vẫn còn không khí xuân. Ngồi uống cà phê, nhìn trai gái du xuân, tôi mừng cho những buổi sáng yên bình. Không biết có còn ai không được hưởng vẹn cái tết bên người thân? Không biết có còn ai không được vui xuân trọn vẹn?  

    Trong tôi rộn lên âm thanh mùa xuân. Trước mắt tôi hiện lên sắc màu xuân của dáng vẻ trai gái du xuân. Đặc biệt các cô gái. Các cô đang tinh nghịch, đang chỉ trỏ ai đó. Tôi như thấy bóng dáng Hồ Xuân Hương cùng các cô gái du xuân. Tôi thấy rất rõ các cô tủm tỉm cười, ánh mắt tinh nghịch, đang chỉ trỏ... Và tiếng thơ Hồ Xuân Hương bỡn cợt: Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo – Kìa đền Thái thú đứng cheo leo... Và rồi điệp khúc đứng cheo leo lại vang lên. Các cô vừa nắm tay nhau vừa hát đứng cheo leo liên tục, đến nỗi tượng Sầm Nghi Đống phải đổ quỵ. Có lẽ Thái thú họ Sầm xấu hổ! Ai đời nam nhi lại bị nữ nhi chọc ghẹo là thứ đứng cheo leo? Có đòn nào làm bẻ mặt anh hùng hơn thế? Tôi phục ngàn lần Hồ Xuân Hương và các cô gái!  

    Rồi hình ảnh Hồ Xuân Hương cùng các cô gái biến mất trước mắt tôi. Tôi trở về thực tại.
   
    Hôm nay ngày mùng 5 Tết  âm lịch. Chiến thắng Đống Đa đâu rồi? Không lẽ Lê Chiêu Thống cùng bọn quân Thanh có phép xóa nhòa lịch sử? 

Phan Trang Hy
       

Chủ Nhật, 3 tháng 2, 2013

RẮN VÀ THÀNH NGỮ CA DAO - Kha Tiệm Ly




Trong mười hai con giáp có lẽ con rắn là con vật bị nhiều tai tiếng nhất. Rắn gần như tượng trưng cho sự ác độc, giả dối và nguy hiểm. Miệng hùm nọc rắn; đuôi ong nọc rắn là những chỗ chết người cần phải tránh xa, cũng như những kẻ lòng như rắn rít thì đừng bao giờ giao tiếp! Nhưng không phải lúc nào “trông mặt mà bắt dong” đều đúng, vì có mấy ai lường được với bộ mặt rắn giả lươn hay kẻ khẩu phật tâm xà! Bởi vì lầm lẫn nên có người đã ấp rắn vào ngực để tính mạng sẽ bị đe dọa không biết lúc nào.

Rắn vốn nguy hiểm. Rắn rít bò vào thì cóc nhái bò ra, nên không ai dại gì mà cõng rắn cắn gà nhà, mà càng phải tận diệt; nhưng rắn vốn mình dài nên khi giết nó chớ nên đánh rắn giữa thân, điều nầy chẳng khác gì bắt rắn bỏ bị, là việc làm không triệt để; đã không hiệu quả mà có thể bị nó quật lại bằng cái đầu vốn sẵn nọc độc của nó. Bởi thế, đánh rắn phải đánh đàng đầu, làm cho rắn mất đầu, thì dù cho rắn biết gáy cũng phải tiêu đời. Rắn khôn giấu đầu cũng vì lẽ đó! Sau cùng là yếu tố bất ngờ, không được đả thảo kinh xà mà chúng lủi trốn mất.

Hổ tha, rắn cắn là hai trường hợp vạn tử nhất sanh, khó mong sống sót. Thao láo như mắt rắn ráo là nói những kẻ hay soi mói. Đầu rắn mắt chuột theo tướng số là người gian xảo, lòng dạ không được… thẳng như rắn bò! (mai mỉa). Rắn đổ nọc cho lươn hàm ý vu oan giá họa cho người lương thiện. Rắn (đòi) ăn voi để nói lên sự tham lam quá mức. Rắn nguy hiểm và độc địa như vậy mà tạo hóa lại ban cho chúng ân huệ lớn là “lột da sống đời”; thật trớ trêu khi mà rắn già rắn lột da, người già người chết; hay rắn già rắn lột, người già người tuột vào săng! (kì thực thì đến lúc nào đó rắn cũng phải chết thôi)

Có những người nóng tính, tuy khi giận dữ thì bạnh như rắn hổ mang, nhưng lại không dựa hơi mà theo đóm ăn tàn!

Nếu trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu. Thì rồng ở chung với rắn là chuyện khá bực mình; dù cho có biết hóa trang thích nghi với môi trường thực tế như vào nhà rắn rồng, ra đồng hổ ngựa cũng vậy!

May mắn thay, theo sách… mê tín dị đoan, thì: Hễ đi gặp rắn thì may / Về nhà gặp rắn thì hay bị đòn! Và khi xuất hành nếu gặp rắn thì đi, gặp qui thì trở lại. Đây là trường hợp duy nhất con rắn được “ngưỡng mộ”; nếu không tính những thực đơn của các anh đầu bếp, và các y văn, toa thuốc của các thầy lang!

Rắn độc ở Việt Nam có nhiều loại, thân chúng thông thường có nhiều màu hay có khoan quanh mình, nổi danh nhất là hổ đất, và mái gầm. Mái gầm tại chỗ, rắn hổ về nhà đã khẳng định nếu ai xui xẻo bị mái gầm mổ thì kể như tàn đời.

Nhưng rắn có phải là loài độc nhất trên thế gian nầy? Bài thơ có hơn ngàn năm nay đã viết:

Thanh trước xà nhi khẩu,
Hoàng phong vĩ thượng châm.
Lương ban giai khả độc,
Tối độc phụ nhân tâm!

Nghĩa:

Miệng của con rắn bị kẹt trong ống tre từ nhỏ.
Trên cái đuôi của con ong vàng (ong vò vẽ ?).
Cả hai đều khá độc,
Nhưng cực kì độc là lòng dạ đàn bà!

Xem xong hàng trên, chắc không ít quí bà sẽ la oái oái như rắn bắt nhái, nhưng biết làm sao khi… thánh nhân dạy vậy rồi! Hơn nữa, nếu đặng lòng rắn thì mất lòng ngóe; người viết đành phải … thẳng như rắn bò mà thôi!

Dù độc ít hơn… “phụ nhân tâm”, nhưng rắn vẫn được nhắc nhở trong văn chương bình dân qua những câu hò đối đáp: Con gì có cánh không bay / Con gì không cẳng chạy bay năm rừng? Đáp: Con gà có cánh không bay / Con rắn không cẳng chạy bay năm rừng… Con rắn không chân mà đi năm rừng bảy rú / Con gà không vú mà nuôi tám chín mười con…Với đồng dao: Bao giờ cho hết tháng ba / Ếch cắn cổ rắn chạy ra ngoài đồng; và với thần ve chai: Cần gì cá lóc cá trê / Thịt chuột thịt rắn nhậu mê hơn nhiều.

Nói về rắn mà không nói đến bài thơ Rắn Đầu Biếng Học của Lê Quí Đôn thì thật thiếu sót:

Chẳng phải liu điu , vẫn giống nhà
Rắn đầu biếng học lẽ không tha
Thẹn đèn, hổ lửa đau lòng mẹ,
Nay thét mai gầm rát cổ cha.
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo
Lằn lưng cam chịu vết dăm ba (roi da)
Từ nay Trâu, Lỗ xin chăm học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.

Chuyện con rắn trong văn chương còn rất nhiều, nhưng người viết không dám vẽ rồng vẽ rắn, để rồi vẽ rắn thêm chân mà làm phiền người đọc. Nhân năm mới chúng tôi kính chúc quí độc giả được “đổi đời”  như rắn hóa rồng; vị nào mua bán thì được sung túc; khách hàng nườm nượp kéo đến xếp hàng như rồng như rắn trước nhà!
                                                                           
KHA TIỆM LY

Tên thật: Thái Quốc Tế
Địa chỉ: 99/5 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 2, tp Mỹ Tho, Tiền Giang 
Tel: 0987 – 701 - 952

Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

Võ Văn Luyến - NGÀY XUÂN ĐỌC CA DAO QUÊ MÌNH

Tác gỉa Võ Văn Luyến

Quê hương trong lòng mỗi người, nhất là những người xa quê, mỗi độ xuân về tết đến, luôn trào dâng nỗi nhớ cội thương nguồn. Bởi đó là nơi chôn nhau cắt rốn, nơi cất giấu tuổi thơ vàng son một thuở, nơi “chùm khế ngọt” ngước khát khao bắc thang trèo hái, nơi “ta đi về và cuộc sống được gieo lên” (Nguyễn Hữu Quý). Vâng, miền quê Quảng Trị tự bao giờ đã chạm khắc trong tôi muôn nỗi da diết như thế. Dẫu sinh ra trên mảnh đất lắm gian nan, nhiều vất vả, “mùa đông bão lụt, mùa hạ nắng thiêu” nhưng ở đó không thiếu vẻ đẹp làm ấm lòng người và dựng dậy tin yêu xứ sở. Bằng chứng cho vẻ đẹp ấy là những bài ca dao, những “giọt sữa mẹ ngọt ngào” chảy qua năm tháng nuôi dưỡng, di dưỡng tình yêu con người.
Chẳng thơm cũng thể hương đàn
Chẳng trong cũng thể nước nguồn Hàn chảy ra
Nói về quê hương, không gì khiêm nhường hơn thế nhưng trong thẳm sâu người Quảng Trị luôn tự hào về một Non Mai Sông Hãn làm nên cốt cách một vùng đất. Hãy nghe người Quảng Trị giới thiệu về đặc sản quê hương, về nơi giao thương, giao lưu tình cảm bằng lời mời chân mộc mà chan chứa ân tình:
Ai lên một chuyến chợ Cùa
Nhớ mua trái mít, em bù trái thơm
Đất Cùa nổi tiếng mít ngọt, thơm (dứa) ngon, tiêu cay tê lưỡi; nổi tiếng là “miền gái đẹp” của Quảng Trị, và còn hơn thế, đấy là nơi “đất lành chim đậu”, tình yêu nẩy mầm, đơm hoa kết trái tươi thắm như lòng đất bao dung, trung trinh cách mạng .
Quảng Trị vốn là đất hiếu học. Hiếu học theo cách của con nhà nghèo  gần ánh sáng kinh thành Huế - thủ phủ xã hội phong kiến một thời – nên “động cơ đốt trong” nhằm vào sự học mãnh liệt và gặt hái thành công không ít:
Bao giờ trên núi hết cây
Sông kia hết nước, họ nầy hết quan.
Đấy là niềm tự hào của dòng họ Trần Đình ở Hà Thượng - Gio Linh, nhiều đời có người đỗ đạt cao và làm quan đến chức Thượng thư (tương đương chức Bộ trưởng ngày nay). Điều đáng nói là các bậc tài trí này yêu nước thương dân, một lòng một dạ vì quê hương đất nước.
Người Quảng Trị sống thuỷ chung hết mực, một tình sử Ô Lâu đẹp như huyền thoại. Câu chuyện về người con gái mượn dòng sông trầm mình để chứng tỏ trái tim khát khao tình yêu nồng thắm và giữ tròn phẩm tiết sáng trong gây thổn thức bao thế hệ:
Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cộ con đò khác đưa
Cây đa bến cộ còn lưa
Con đò đã thác năm xưa tê (kia) rồi
Sống thuỷ chung nên rất nhân hậu, nghĩa tình. Tư tưởng nhân sinh “một ngày nên nghĩa” thấm sâu trong máu thịt nên nồng đượm như lửa:
Rồi mùa toóc rạ rơm khô
Bạn về quê bạn biết nơi mô mà tìm
          Phải nói rằng đây là “hậu khúc” giã bạn thấm đẫm tình người. Dường như những ngổn ngang trên cánh đồng mùa gặt cuốn vào công việc để khi chia xa,  kẻ ở người đi tiếc nuối cho thời khắc “lửa mới nhen, đèn mới khêu” thì bặt vắng tin nhạn. Rồi ra như ngọn gió đi tìm, trái tim mách bảo và đưa đường dẫn lối:
Đói lòng ăn nửa trái sim
Uống lưng chén nước, đi tìm người thương
Cầm trên tay hoang tàn đổ nát, trong ký ức người Quảng Trị có quá nhiều nỗi đau chia cắt, mất mát.
Tới bến Hiền Lương chặng đường sao nghẹn lại

Qua cầu Bến Hải sao gác mái tình duyên!

 Dễ hiểu vì sao hình ảnh núi sông diễm lệ quẫy đạp trong giấc mơ vang bóng; hình ảnh mái nhà tranh, bữa ăn thừa sắn thiếu khoai buổi giêng hai giáp hạt trong ký ức nghèo khó của ông bà, cha mẹ nhưng chất ngất vẻ đẹp của một miền quê mang sức mạnh Phù Đổng. Ở đó, có bà mẹ vác đầu con bị giặc giết đi đòi công lý; có người cha gieo lời thề vàng đá xuống dòng sông dậy sóng chiến công; có người chị hy sinh tuổi xuân như đời cát trinh nguyên; có thật nhiều những trái tim can trường không tiếc máu xương cho một nền hoà bình công chính:
Nhà tan, cửa nát cũng ừ
Đánh tan giặc cướp, cực chừ sướng sau
Ca dao Quảng Trị ít miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên, tự nhiên. Mảnh đất quăng quật trong thiên tai, địch hoạ này đã tạo dáng cho vẻ đẹp bên trong của con người, hun đúc nên nghĩa tình sáng láng và rất đỗi nhân hậu:
Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn,
                                                       tháng khốn, tháng nạn
Đi vay, đi tạm được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên
Mua một vác tre
Về dựng cái quán
Ai hờn, ai oán
Đốt quán tui đi
Tui thương cái tranh
Tui nhớ cái tre
Tui thương cái cột
Tui nhớ cái kèo
Bạn nghèo gặp nhau !
“Dĩ nông vi bản”, người dân Quảng Trị sống chết với cây lúa, thế mà trời hành thành ra trắng tay và ngơ ngác đưa chân sang cái nghề buôn bán, mà buôn bán to tát gì cho cam: Dựng một cái lều tranh bán mua đổi chác (và chắc cũng chẳng hơn gì ấm nước chè xanh!). Không hờn oán chi ai mà người ta nỡ đốt quán. Dồn đến đường cùng mà không hề căm giận, oán trách kẻ tàn ác. Chỉ thương “cái tranh, cái tre, cái cột, cái kèo” - những người bạn khó cùng gặp  hoạn nạn. Lòng nhân hậu lớn lao đến thế là cùng!
Nhưng sức mạnh niềm tin “còn da lông mọc, còn chồi nảy cây” vô song không chỉ làm nên tính cách tuyệt vời của người Quảng Trị mà còn nâng bỗng, cứu rỗi bao thân phận không may trên cõi nhân gian đầy bất trắc này. Đó chẳng phải là bài học lớn cho những ai biết đứng dậy sau quỵ ngã đó sao ?
                                      *
Ngày xuân khẩn nguyện điều lành, nói chuyện vui năm mới. Một chút “ôn cố” trên dòng chảy tâm thức cũng nhằm hướng tới cái lẽ huyền vi của trời đất ban tặng con người. Vâng, cái lẽ huyền vi ấy đã được nhà thơ Đỗ Trung Quân nói hộ bằng những câu thơ dung dị như đất mẹ Quảng Trị thầm nhắc chúng ta:
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành nguời ! 


                                               Võ Văn Luyến