Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

CẢM XÚC MÙA XUÂN - Nguyễn Hồng Trân



                        
Mùa xuân về, ta như trẻ lại!
Thổn thức lòng, nhớ mãi tuổi xanh.
Bầu trời chím én liệng nhanh,
Tâm hồn rạo rực bao quanh tuổi già.

Cảnh trời đất ngàn hoa khoe sắc,
Gợi tình xuân ngây ngất vấn vương.
Cuộc đời chất chứa yêu thương,
Gắn liền mảnh đất quê hương thắm tình.

Thời chinh chiến hy sinh gian khổ,
Quyết giữ gìn đất tổ thiêng liêng.
Dù cho bom đạn triền miên,
Rừng cây hoa lá không quên xuân về.

Bao kỷ niệm say mê thuở trước,
Thời thanh xuân mong ước đầy vơi.
Giờ đây lão hạc đến rồi,
Mà tình như thể xuân đời còn nguyên!...
  
              Phước Vĩnh, tp. Huế, tháng 1 năm 2013
                    

Phạm Ngọc Thái - CHÙM THƠ XUÂN QUÝ TỴ

Tác giả Phạm Ngọc Thái


ĐÊM XUÂN
           RU ĐỜI VỚI CÁC BẬC XƯA
                                         
Cuộc sống trôi qua, người đời vận động
Xã hội thăng trầm khi chừng mực, lúc đảo điên
Cái sân khấu cuộc đời khép, mở
Đã về già mà đâu có được yên?
 
Có thể thế nên lẽ sống lại trở thành có lý!
Buồn cũng nhiều nhưng vẫn hữu tình thay
Như cái sân khấu ngoài trời
                           ở phường Quán Thánh ta đây 
Đêm xuân nay có ca nhạc, dân tình túa đến xem vui đáo để. (1)
 
Ta ngồi trong bóng lặng ngắm mảnh trăng trời cô lẻ
Về với tình Nguyễn Khuyến giữa đêm câu…(2)
Ru hồn vào cõi thơ mộng ảo
Nhưng đêm xuân này mình chẳng muốn viết thơ yêu?
 
Lòng càng hiểu tâm trạng bà Xuân Hương, bác Tản Đà thuở trước
Nỗi buồn Nguyễn Du đeo đẳng cả kiếp người
Thôi cụ ạ! Thời thế nào cũng đều thế cả
Chỉ khi chết đi mới hết nợ đời! (3)
 
 
 (1)     Đón ngày lễ tết ở  phường Quán Thánh dựng rạp ngay ngã tư phố, tổ chức ca nhạc vui xuân để khách bốn phương đi ngang qua, cùng bà con khối phố túa đến xem đông nghịt cả đường phố.
(2)   Chạnh nhớ bài thơ “Điếu thu“ của Nguyễn Khuyến:
            Ao thu lạnh lẽo nước nước trong veo
            Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo…
(3)    Theo thuyết bản mệnh  của kinh Phật ở trong thơ cụ Nguyễn Du: Người ta chỉ chết đi mới hết nợ đời! Bởi vậy nàng Kiều đã nhảy xuống sông Tiền Đường để quyên sinh mà không chết, đã được Giác Duyên vớt cứu: Nàng chưa thể chết, vì chưa trả hết nợ kiếp người!
   

 ĐƯA CHÂN EM CHIỀU PHỐ

Đưa chân em ra phố
Để mình chia nhau xa
Hay để rồi thương nhớ
Chiều phố sao nhạt nhoà...

Mắt em đong đầy lá
Rồi quay đi hơi buồn
Thoắt bỗng thành quá khứ
Trái tim tình mênh mông.

Anh muốn ngược thời gian
Lại cùng em tha thiết
Người con gái yêu thương
Tình ta không thể chết!

Ôi, vầng trăng xa xăm
Lòng ta man dại quá
Cuộc đời là nghịch lý
Đành chia tay bẽ bàng.
Nhìn cánh hoa rơi rơi
Nó chết vì chính nó
Trái tim anh, em ơi!
Em mang đi rồi đó…

                Đêm đầu xuân 



 ĐÊM XUÂN QUÁN
 
Đêm thành phố ngồi trong quán vắng
Nước hồ trầm mặc phất phơ mưa
Lá rơi lẳng lặng nhưng đằm thắm
Người mới lần theo bóng năm xưa...

Quán cô quạnh gió về nghe thổn thức
Quanh hồ những tiếng nói hư vô
Ôi, làn da ngọc như trứng bóc
Em của ngày xa, em của ta?

Đêm thương nhớ đèn sao lấp loá
Thoang thoảng quanh mình ít hương hoa
Lòng lại hoá miền sa mạc
Cát bay trắng xoá bãi bờ.

Hồn tan tác tựa cánh cò, cánh vạc
Sóng bên bờ ì oạp trái tim thơ!
Ta hỏi vầng trăng thực hay là hư ảo?
Nguyệt rung rinh cười, một đêm quán thành đô…





 CÔ GÁI  BÊN HỒ XUÂN

Hồ chiều trông dại nắng
Em bước nhẹ trong hàng cây nghiêng bóng
Gió khẽ reo sau tà áo thanh tân
Mắt em thầm mang cả mùa xuân.

Cánh buồm đỏ đưa em vào xa vắng
Anh mải nhìn theo màu áo trắng
Cái màu mây thiếu nữ dịu hiền
Em đi rồi, còn lại một trái tim!

Em xa rồi, còn lại nỗi đau êm…
Tiếng lòng cứ rì rầm bên vệ cỏ
Chỉ thiên nhiên mãi mãi là tươi trẻ
Tuổi ta ơi, vội héo làm gì?

Cánh buồm đỏ anh đưa em vào xa vắng
Năm tháng đời anh, tóc trắng đầu anh
Nhưng rồi ngày mai em cũng sẽ già và chán?
Cô gái đi bên hồ: Ta sẽ hoá ra chim...

Phạm Ngọc Thái

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

XUÂN ĐẦY - Hồ Trọng Trí họa thơ Lê Đăng Mành

Tác giả Hồ Trọng Trí. Ảnh từ trang của Văn Thiên Tùng

THƠ XUÂN TIẾNG QUÊ MIỀNG
Họa bài XUÂN ĐẦY của Lê Đăng Mành (Hải lăng, Q. Trị)

                     Tết nhứt khôông tiền rọt nhén tong
                     Eng mang áo trọoc mẹng cười mờng
                     Chú tê chặn cặp đừng chơi hoảng
                     O nớ lẻ đôi chớ chạy quờng
                     Mồng một, cấy dôông nên nhớ cự
                     May sơ, ôông mụ chớ quên dường
                     Đi thăm làng nác ba ngay Tết
                     Túi lại mần răng lọi vạc chờng. 
    
                                                                                      

             Ghi chú:
                          rọt nhén: ruột nhẹ
                          trọoc: sọc
                          mẹng: miệng
                          may sơ: vận hên, đầu tiên
                          nác: nước
                          mần răng: làm sao
                          lọi: gãy
                          cấy dôông: vợ chồng
                          túi: tối
                          cự: kiêng
                          ngay: ngày             


Hồ Trọng Trí
Kim long, BRVT
                                           ĐT: 01667332652
trongtri42@gmail.com

Thương Yến Tử - THIỆP XUÂN



Đôi điều về bài viết “Báu vật trong ngôi nhà thờ cổ” của họ Nguyễn Đức làng An Thơ, Hải Lăng, Quảng Trị - Nguyễn Như Xuân

Theo TRƯƠNG QUANG HIỆP (Quảng Trị Online) 

Nhà thờ họ Nuyễn Đức. Ảnh Như Khoa
  
                                                  

      Bài viết nhiều vấn đề. Tôi chỉ nêu những vấn đề theo hiểu biết của mình.
     1, Nhà thờ họ Nguyễn Đức xây dựng vào năm 1832 mà bài viết ghi ngày khánh thành năm 1829.
     2, 15 tấm ván khắc mỗi tấn 7 câu kép (5+3) vị chi 85 câu theo thể văn khác lạ, không thấy lưu truyền phổ thông trên văn đàn. Bài viết cho đó là 15 bài thơ theo thể thất ngôn bát cú Đường luât. Đúng, thể thơ Đường luật 8 câu mỗi câu 7 chữ, còn trên tấm ván 7 câu mỗi câu 8 chữ. Tôi cho rằng ngẫu nhiên mà có sự giống nhau 56 chữ nên tác giả nhầm. Đi vào cấu trúc thể văn chúng chẳng giống nhau tí nào. Đường luật (luật trắc bằng) mỗi bài có chủ đề, có niêm luật, có đối ngẫu, có khai, thừa, chuyển, hợp…Ở “kho báu” cứ mỗi câu (5+3) là một chủ đề độc lập và chỉ một luât (qui định số chữ trong câu ngắt làm hai đoạn) là 5+3.
     3, 85 câu trong kho báu không phải các cụ thông Nho trong làng sáng tác bởi tất cả không một câu nào nói về làng An Thơ. Chắc chắn là được tuyển tập từ những câu danh ngôn xuất sắc thời bấy giờ để giáo dục nhân dân trong cả nước. Câu hỏi đặt ra: tại sao An Thơ lại có?  Theo tôi vùng ta chi ở An thơ mới có điều kiện sở hữu tài sản quí giá này.

1 trang 15 tấm khắc ván những câu 5+3. Ảnh Như Khoa

    Ta thử xem báu vật:
    a, Nguồn tài liệu chỉ có cấp quốc gia (triều đình).
    b, Gia công sản phẩm cực kỳ tinh xảo: mài giũa rất trơn bóng, chữ rất đẹp, nét chạm khắc rất sắc, chất bảo quản quá tốt. Gần 200 năm trên chất liệu gỗ mà ảnh chụp nét chữ rỏ như mới.
     c, Trình độ tuyển chọn danh ngôn không dễ.
     d, Chi phí cho chừng ấy việc phải có số tiền rất lớn.
     v.v…
     Khả năng này chỉ có ở làng An Thơ thời bấy giờ. Thời đó 1820-1850 xuất hiện nhiều nhân tài: Thượng Thư Bộ Hộ  Nguyễn Đức Hoạt, Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan, Biện tu Nội các Nguyễn Quang Huy, Tri phủ Nguyễn Đức Tư và nhiều vị nữa.
     Tầm nhìn và khả năng cỡ ấy mới dám nghĩ, dám làm, dám đưa “báu vật” từ chốn phồn hoa (có thể là ở kinh đô Huế) về nông thôn, để làm rạng rỡ nơi quê cha đất tổ.


     Trộm phép xin thưa: các vị tham gia Triều chính nói trên cũng biết rất ít người trong làng đọc và hiểu hết các câu mà họ đưa về thờ. Có hề chi! Dân làng chỉ nhìn tí thôi, tôi tin làng An Thơ tức khắc trở thành LÀNG VĂN HÓA.

      Tuy chưa được thấy hiện vật nhưng nhìn những tấm ảnh chụp, tôi dám khẳng định vùng quê ta không thể chế tác nổi SẢN PHẨM NÀY

***

    Nghe rằng: những câu trong “kho báu” đã được dịch. Thực lòng tôi rất mừng bởi tôi dịch mãi chưa một câu ưng ý.  Xin ví dụ tôi dịch câu đầu tiên:
     Nhân (nhơn) giả nan phùng tư  /  Hữu thường bình
     Tôi dịch:
-Người tốt khó gặp điều lo nghĩ / Có, chuyện thường tình
-Người tốt it gặp điều lo lắng    /  Có (đúng) thế thật.
     Có một nghĩa nữa người nhân (người hiểu đạo làm người) có liên quan đến câu 3 chữ: hữu thường bình. Thường là ngũ thường (nhân lễ nghĩa trí tín). Dịch thế nào đây? Tôi tự an ủi: chữ TQ càng ít chữ càng khó dịch.
     Trong tôi hiểu câu này là : Người nhơn đức trời luôn ban cho họ thanh thản, nhưng không diễn đạt nổi.

    Trong bài viết có một câu (không phải trong 85 câu) tác giả đã dịch, tôi muốn bàn lại là câu: “Tiên năng liễu tận thế gian sự/ Nhiên hậu phương ngôn xuất thế gian” (tác giả tạm dịch: Trước tiên hãy hiểu biết mọi việc trong thế gian/ Rồi sau mới nói đến việc ra khỏi thế gian)
     Dịch ra khỏi thế gian không chuẩn, dễ hiểu nhầm. Theo tôi nên dịch ra với thế gian

     Tôi không thấy chữ kính họa ở bản khắc. Ở thể văn này và ở đây ai thỉnh họa mà có người kính họa, xướng họa chỉ có ở thể Đường luật.
     Xin có lời đề nghị: Bản dịch hoàn chỉnh, kính đề nghị nhà xuất bản Quảng Trị phát hành rộng rải trong cả nước. Tôi lắng tin để tìm cho được một tập và giới thiệu rộng rải với bạn bè.
     Trong bài viết có điều gì thất lẽ xin tha cho.

Nguyễn Thanh Xuân
Đ/c: 487/ 2 Đường Cô Nhuế Từ Liêm Hà nội
Email: nhuxuan29@gmail.com

***
Mời các bạn đọc thêm bài:
BÁU VẬT TRONG NGÔI NHÀ CỔ 
trên báo Người Lao Động Online
và trên trang Blog của Nguyễn Như Khoa có liên kết trong danh sách WEBLOG bên phải của trang VNQT.

XUÂN THA HƯƠNG - thơ Mai Hoài Thu - Hồng Vân diễn ngâm

Tác giả MAI HOÀI THU


Ô kìa! Xuân đã đến rồi sao?
Đón Tết xa quê tự thưở nào!
Thương phận lưu vong, sầu khó giải,
Đêm nằm tỉnh mộng bỗng xôn xao…
Mười năm hơn nhỉ, Tết xa quê,
Biết đến khi mô lại trở về?
Cô phụ nhìn Xuân đi mỗi bước,
Đêm đêm hoài mộng, nửa hồn tê…
Tết ở quê người dạ xót xa,
Nhớ thương quê mẹ, tháng ngày qua…
Tha hương gởi trọn niềm thương nhớ,
Một mảnh trăng quê, dấu lệ nhòa…

San Jose, 12/28/2007
Mai Hoài Thu


HẸN ĐẾN LUÂN HỒI - La Thụy


        

               HẸN ĐẾN LUÂN HỒI
      Luân hồi xin hẹn đến mai sau                       
      Tình cũ người ơi vẫn đượm màu                       
      Thuở ấy ai thề chung bóng với                       
      Giờ đây ta nghẹn lẻ hình nhau                  
      Ươm hồng kỷ niệm bao xuân mộng                       
      Dệt biếc tâm tư mấy hạ sầu                       
      Lỗi ước nghìn thu - xin chớ nhé!                      
      Tái sinh toàn vẹn ước mơ đầu 
                                      LA THUỴ